Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Glycogen là gì? Những kiến thức cơ bản về glycogen

Glycogen là gì? Những kiến thức cơ bản về glycogen

Khi đọc các bài viết về dinh dưỡng cho người tập thể hình, chúng ta thường nghe nhắc đến glycogen nhưng chưa thực sự hiểu nó là chất gì, có ảnh hưởng gì đối với sức khỏe và tập luyện.

Dưới đây là những thông tin cơ bản nhất bạn nên biết về glycogen – một dạng tinh bột trong cơ thể.

Glycogen là tinh bột gì?

Glycogen thực chất là một dạng carbohydrate được lưu trữ trong cơ thể.

Nó được hình thành bằng cách liên kết các phân tử glucose theo chuỗi dài, gồm khoảng 8-12 phân tử. Những chuỗi này sau đó lại tiếp tục liên kết với nhau tạo nên các hạt lớn gồm hơn 50.000 phân tử glucose.

Những hạt glycogen này được lưu trữ cùng với nước và kali trong các tế bào cơ và gan, cho đến khi cơ thể phân hủy và sử dụng chúng để làm năng lượng.

Một hạt Glycogen sẽ có hình dạng như hình

Những sợi như sợi dây ruy băng nhiều màu ở trung tâm đại diện cho một dạng protein chuyên biệt, đóng vai trò là điểm nối để tất cả các chuỗi glycogen gắn vào.

Hạt glycogen lớn hơn khi ngày càng có nhiều chuỗi glycogen được gắn vào hạt nhân này, và nó bị thu nhỏ lại khi các sợi bị phá vỡ để sử dụng làm năng lượng.

Tổng hợp glycogen là gì?

Tổng hợp glycogen là việc tạo và lưu trữ các hạt glycogen mới.

Để hiểu được cách thức và lý do glycogen được tạo ra, điều quan trọng là phải hiểu cách cơ thể bạn tiêu hóa và lưu trữ carbohydrate.

Sau khi ăn một bữa ăn, cơ thể bạn phân hủy protein, chất béo và carbs thành các phân tử nhỏ hơn. 

  • Protein bị phân hủy thành các phân tử gọi là axit amin. 
  • Chất béo bị phân hủy thành các phân tử gọi là triglyceride.
  • Carbs bị phân hủy thành các phân tử của một loại đường đơn giản gọi là glucose.

Cơ thể cũng có thể chuyển đổi protein và chất béo thành một lượng nhỏ glucose, nhưng quá trình này không hiệu quả và chỉ tạo ra đủ glucose cho các chức năng cơ thể cơ bản, chứ không đáp ứng được nhu cầu tập tạ. Nó cũng chỉ tăng khi mức glycogen đã ở mức thấp. Đó là lý do tại sao bạn phải tiêu thụ carbs để tạo ra một lượng glucose đáng kể.

Cơ thể chỉ có thể lưu trữ khoảng 4 gram (một muỗng cà phê) glucose trong máu bất cứ lúc nào. Nếu glucose tăng vượt mức sẽ gây ra dư thừa, có khả năng làm hỏng dây thần kinh, mạch máu và các mô khác. Tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới bệnh tiểu đường.

Tuy nhiên, để ngăn chặn điều này xảy ra, cơ thể cơ thể sử dụng một số cơ chế để loại bỏ một lượng glucose đi vào máu. Và cách để xử lý chính là “đóng gói” lượng glucose này thành các hạt glycogen, sau đó “cất” chúng vào các tế bào cơ và gan. Đây chính là quá trình tổng hợp glycogen.

Nếu cơ thể cần thêm năng lượng trong tương lai, nó sẽ chuyển đổi các hạt glycogen này thành glucose và sử dụng để làm nhiên liệu.

Glycogen được lưu trữ ở đâu?

Glycogen chủ yếu được lưu trữ trong các tế bào cơ và gan, cùng với một lượng nhỏ ở trong một số tế bào não, tim, mỡ và thận.

Cụ thể thì glycogen được lưu trữ ở chất lỏng trong các tế bào được gọi là cytosol.

Cytosol là một chất lỏng trong suốt bao gồm nước, các loại vitamin, khoáng chất và một số chất khác giúp tạo nên cấu trúc tế bào, lưu trữ chất dinh dưỡng và hỗ trợ các phản ứng hóa học trong tế bào.

Glycogen trôi nổi trong cytosol cho đến khi nó bị phân hủy thành glucose và sử dụng để làm năng lượng.

Hình dưới đây là cấu trúc của glycogen trong tế bào gan khi được quan sát dưới kính hiển vi. Các chấm đen nhỏ là các hạt glycogen lơ lửng trong cytosol.


Thông thường thì mọi người có thể lưu trữ khoảng 100 gram glycogen trong gan và khoảng 500 gram trong cơ bắp. Người có lượng cơ bắp nhiều hơn và có nhiều kinh nghiệm tập luyện có thể lưu trữ được nhiều hơn thế.

Nhưng nói chung, hầu hết mọi người đều có khả năng lưu trữ khoảng 600 gram glycogen.

Cơ thể bạn sử dụng glycogen trong gan như một nguồn năng lượng tức thời để cung cấp cho não và thực hiện các chức năng cơ thể khác trong ngày.

Trong khi đó, glycogen cơ bắp được sử dụng bởi bất kỳ cơ bắp nào đang hoạt động trong khi tập thể dục.

Ví dụ: Nếu bạn tập squats, thì glycogen được lưu trữ trong cơ đùi trước, đùi sau, mông và bắp chân sẽ bị phân hủy thành glucose để cung cấp năng lượng cho bài tập.

Ảnh hưởng của glycogen đến việc tập luyện

Sau khi hiểu rõ khái niệm glycogen, quá trình lưu trữ và sử dụng nó, chúng ta hãy đi tìm lý do vì sao vận động viên, người tập luyện cần phải quan tâm đến lượng glycogen.

Glycogen ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất tập luyện?

Đơn vị cơ bản nhất của năng lượng tế bào là một phân tử có tên gọi là adenosine triphosphate (ATP).

Tuy nhiên, để một tế bào sử dụng được ATP, trước tiên nó phải chia ATP thành nhiều phân tử nhỏ hơn. Quá trình này tạo ra các phụ phẩm mà sau đó được “tái chế” lại thành ATP để tái sử dụng.

Bạn càng có nhiều ATP, các tế bào càng lưu trữ và tái tạo nhanh, càng tạo ra được nhiều năng lượng sử dụng để hoạt động.

Khi bạn tập thể dục, các tế bào của bạn đòi hỏi nhiều năng lượng hơn bình thường. Do đó cơ thể phải tạo ra nhiều ATP hơn để đáp ứng.

Ví dụ, trong một lần chạy nước rút, cơ thể có khả năng sử dụng ATP nhanh hơn 1.000 lần so với khi bạn nghỉ ngơi.

Vậy, làm thế nào để cơ thể bạn tăng cường sản xuất năng lượng để đáp ứng những nhu cầu này?

Cơ thể sử dụng 3 quá trình khác nhau, được gọi là các hệ thống năng lượng (energy systems) để đảm bảo cơ bắp luôn có nguồn cung cấp ATP ổn định cho dù bạn tập nhiều và nặng đến mức nào.

Các hệ thống này sử dụng một số nguồn nhiên liệu khác nhau để tái tạo ATP, bao gồm mỡ cơ thể (triglyceride), glycogen và một phân tử khác gọi là phosphocreatine.

Hệ thống phosphocreatine

Sử dụng phosphocreatine – một nguồn năng lượng khác được lưu trữ trong cơ bắp.

  • Ưu điểm: Tạo ra năng lượng cực nhanh.
  • Nhược điểm: Năng lượng không nhiều, mất nhiều thời gian để nạp lại.

Cơ thể thường sử dụng hệ thống này cho những nỗ lực ngắn dưới 10 giây. Sau 10 giây tập nặng, hệ thống phosphocreatine bị rút cạn và cơ thể bắt đầu phải phụ thuộc vào 2 hệ thống còn lại.

Hệ thống anaerobic

Sử dụng glycogen và glucose để làm năng lượng, nên còn được gọi là hệ thống glycolytic.

  • Ưu điểm: Tạo ra năng lượng tương đối.
  • Nhược điểm: Mất vài giây để đạt được công suất tối đa.

Hệ thống anaerobic chủ yếu được sử dụng cho các bài tập kéo dài khoảng 20 giây đến 2 phút. Hầu hết các set 8-12 reps của bạn sẽ được hỗ trợ bởi hệ thống này.

Hệ thống aerobic

Sử dụng nhiều glycogen cơ bắp, còn được gọi là hệ thống oxy hóa trực tiếp.

  • Ưu điểm: Tạo ra nhiều năng lượng trong thời gian dài.
  • Nhược điểm: Mất nhiều thời gian để “làm nóng”.

Hệ thống này thường được sử dụng trong tập luyện cường độ vừa phải, kéo dài, hoặc khi bân hồi phục sai những bài tập khó.

Cả 3 hệ thống năng lượng đều cùng hoạt động mọi lúc, nhưng ảnh hưởng của mỗi hệ thống khác nhau tùy thuộc vào mức độ tập luyện của bạn.

Và phân tích 3 hệ thống này để làm gì?

Ta có thể thấy cả 3 hệ thống đều phụ thuộc rất nhiều vào glycogen.

Nếu mức glycogen của bạn xuống thấp thì những hệ thống này cũng giảm hiệu suất, ảnh hưởng đến hiệu quả bài tập. Ngược lại, nếu bạn giữ mức glycogen cao, cung cấp nguồn nhiên liệu ổn định cho các động cơ này, bạn sẽ có thể tập được nặng hơn và lâu hơn. 

Glycogen và sức mạnh

Nếu bạn thực hiện các sets gồm 4-6 reps, thì set của bạn thường sẽ kéo dài khoảng 15-20 giây.

Nếu glycogen cơ bắp được sử dụng cho những sets dài hơn, nó sẽ tạo ra những sự khác biệt nhờ 2 lý do:

  1. Thứ nhất, mặc dù trong những bài tập ngắn, bạn chủ yếu dựa vào hệ thống phosphocreatine nhưng vẫn cần đến một lượng glycogen tương đối. Chẳng hạn như trong một bài nước rút 10 giây sẽ sử dụng 1 nửa năng lượng từ phosphocreatine và 1 nửa từ anaerobic.
  2. Thứ hai, giữa các sets, hệ thống aerobic của bạn phụ thuộc rất nhiều vào carbohydrate để tái tạo ATP. Nếu bạn không có đủ glycogen trong cơ bắp để phục hồi giữa các sets

Glycogen và sức bền

Cơ thể nhận khoảng 80-85% năng lượng từ glycogen khi bạn đạt khoảng 50-85% cường độ tối đa của bản thân, trong tất cả các môn thể thao sức bền.

Đó là lý do vì sao bạn được khuyên nên ăn chuối, bánh mì, các loại bars protein, nước tăng lực, gel và những món ăn bổ sung nhiều carb khác trong những cuộc chạy dài.

Khi càng đạt gần đến mức cường độ tối đa, cơ thể sẽ sử dụng nhiều carbohydrate hơn theo cấp số nhân. Nghĩa là nếu bạn tập ở mức 60% cường độ tối đa, bạn sẽ sử dụng lượng glycogen nhiều hơn gấp đôi so với khi bạn tập ở mức 30%.

Bạn càng tập nặng thì bạn càng cần nhiều glycogen.

Và điều gì sẽ xảy ra khi bạn hết glycogen? Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi và không duy trì được hiệu suất mong muốn của mình.

Bạn có thể ngăn chặn tình trạng này xảy ra bằng cách bổ sung thêm carbs trong thời gian tập luyện dài, đồng thời xây dựng chế độ ăn nhiều carbs trong ngày.

Làm thế nào để tăng mức glycogen?

Chỉ một bữa ăn lớn nhiều carb không đủ để giữ glycogen ở mức cao. Glycogen luôn bị phá vỡ và tái tạo. Đó là lý do tại sao bạn phải duy trì lượng carbohydrate hàng ngày tương đối cao.

Nhưng chính xác thì cao là bao nhiêu?

Nếu bạn muốn tăng sức mạnh và xây dựng cơ bắp thì cần ăn 1-3 gram carbs/ 0.5 kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày.

Nếu bạn muốn giảm mỡ thì lượng carb sẽ bị ảnh hưởng bởi lượng calo mục tiêu của bạn. Hầu hết mọi người sẽ nạp khoảng 1-1.6 gram carbs cho mỗi 0.5kg trọng lượng cơ thể.

Nếu bạn là vận động viên tập các môn sức bền như chạy bộ, đạp xe bạn có thể cần đến 4-5 gram carbs cho mỗi 0.5kg trọng lượng cơ thể.

Tóm lại, điểm mấu chốt là sau khi đảm bảo đã ăn đủ lượng protein và chất béo mỗi ngày, hãy ăn nhiều carbs nhất có thể trong lượng calo cho phép.

Glycogen có trong thực phẩm nào?

Vì thành phần của glycogen là glucose, một loại carbohydrate, nên thức ăn tốt nhất để tăng mức glycogen trong cơ bắp là những món có nhiều carbs.

Nhiều người chọn các loại carbs tinh chế như ngũ cốc ăn sáng, bánh mì trắng, đồ ăn nhẹ và tráng miệng giàu carb như bánh quy để tăng mức glycogen cơ bắp. Nhưng thực ra đây không phải là một ý kiến hay.

Dù thực phẩm nào nhiều carbs cũng sẽ hoàn thành được nhiệm vụ đó. Nhưng tốt nhất bạn vẫn nên tập trung vào các nguồn carbs đậm đặc, ít qua tinh chế vì chúng giàu các vitamin và khoáng chất hơn.

Bạn có thể tham khảo một số món sau đây:

  • Khoai lang
  • Khoai tây
  • Chuối
  • Dâu tây
  • Nho
  • Táo
  • Xoài
  • Yến mạch
  • Lúa mạch
  • Gạo trắng và gạo lứt
  • Bánh mì ngũ cốc nguyên hạt
  • Đậu
Như vậy bạn đã hiểu glycogen là gì chưa nào, cũng như vai trò của nó đối với hiệu suất tập luyện và cơ bắp. Hãy chú ý đến chế độ dinh dưỡng của mình để tránh mức glycogen cơ bắp bị hạ xuống quá thấp. Tuy nhiên cũng đừng quá lạm dụng và phải cân nhắc đến lượng calo nữa nhé.

Nguồn: irace.vn

IKIGAI, cách người Nhật đi tìm ý nghĩa cuộc sống.

Tối qua, mình như đã có một cuộc phiêu lưu đến nơi như ý định ban đầu là để học tiếng Anh. Ngoài sự mong đợi, nơi đó mình được giao lưu với các bạn trẻ sẽ là nhân tài của tương lai với tâm hồn đầy hồn nhiên và chủ động. Thầy cô là những thiện trí thức của đương thời, đầy lòng nhiệt huyết với tinh thần tích cực chứa đựng tình yêu thương.

IKIGAI, cách người Nhật đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Chủ đề không mới với mình, ít nhiều nó cũng len lỏi vào phong cách sống hiện tại của mình. Nhưng tối qua, E-WIT đã cho mình thêm góc nhìn mới hoặc như đã củng cố thêm niềm tin của mình về việc tạo giá trị và phụng sự cho cộng đồng.

IKIGAI - Source: E-WIT

Môi trường sống tạo nên những khoảnh khắc cho hạt giống của chúng ta. E-WIT, có phải là môi trường cho hạt giống trong bạn? Điều này chỉ mỗi bạn biết, bạn thử cho phép bản thân có vài trải nghiệm phiêu lưu cùng E-WIT để xem ngoài phát triển ngoại ngữ thì hạt giống CHÂN-THIỆN-MỸ của bạn có được nẩy mầm không bạn nhé!

“Hành trình vạn dặm, bắt đầu bằng một bước chân” (Lão Tử)

IKIGAI - Source: Youtube


Vượt qua sự tự chỉ trích

Bạn đang có một mối quan hệ, trong tâm trí bạn thì đó là mối quan hệ rất tốt, rồi bỗng nhiên một ngày nọ đối phương nói không muốn tiếp tục mối quan hệ ấy nửa, vì bạn đại loại là người không như người ấy tìm kiếm, bạn là người không thấu hiểu, bạn có học mà lại cư xử khiếm nhã...vâng...vâng và vâng...vâng. Rồi bạn cảm thấy buồn, bạn suy nghĩ miên mang, rồi bạn tự hỏi bạn đang làm sai điều gì, bạn đang không tốt như thế nào,... bla..bla 

Có thể trong mỗi chúng ta, đôi ba lần xuất hiện việc tự chỉ trích mình, tức là tự nói tiêu cực với bản thân (Negative Self Talk)

  • Tôi cứ làm mọi chuyện rối tung lên, chuyện gì đang xãy ra với tôi vậy? (I keep messing this up, what wrong with me?)
  • Từ trước giờ tôi không làm điều gì đúng cả, tôi thật vô dụng (I can't do anything right, I'm useless)
  • Tôi ước rằng mình không quá tệ như thế (I wish I wasn't so terrible).
  • ...

Vậy nguyên nhân đến từ đâu? (Cause of Self Criticism)

  • Sống và/hoặc làm việc trong một môi trường hay bị chỉ trích (Living and/or working in an environment of criticism)
  • Một người nào đó chỉ trích ta và ta cho phép việc chỉ trích đó diễn ra (A specific person criticizes me and me allow it to keep happening)
  • Từ truyền thông, những tin xấu thì dễ thu hút, những tin tốt thì không (Social media, the bad news is attractive but good is not as)
  • Những ký ức cắm rễ sâu (Old deep rooted memories)

Tự so sánh bản thân với (Comparing myself to:)

  • Người đã làm được điều gì đó to tát (Other people who was done something great)
  • Lý tưởng của tôi về cách tôi nên thực hiện như thế nào (My ideal about how I should be performing)
  • Điều tôi nghĩ sẽ gây ấn tượng cho người khác (What I think others would be impressed by)

Ta cần phân minh tính đỗ thừa & trách nhiệm (Blame & Responsibility) của bản thân ta trong sự việc, hiện tượng xãy ra.

Có cái nhìn đúng đắng về có lỗi & xấu hỗ (Guilt & Shame) vs tự trọng & yêu thương (Self Respect & Love)  

Dân gian ta có 2 câu thơ:

Thương người thương cả lối đi
Ghét người ghét cả tông ty, họ hàng

Ở ví dụ đầu tiên, thật vậy nếu đã thích thì đối phương sẽ giành cho ta bao nhiêu lời nói mĩ miều hoặc đôi khi tùy theo xúc cảm của đối phương ta sẽ nhận được những mỹ từ khác nhau, vậy thì tại sao ta lại tự trách ta theo những cảm xúc đến từ bên ngoài? 

Vượt qua việc chỉ trích bản thân (Overcoming self criticism)

  • Tìm kiếm lợi ích hay mặt tốt trong mọi điều (Look for the benefit or good in everything)
  • Làm tốt nhất và lần tới sẽ làm tốt hơn (Do your best and next do better)
  • Học cười vang trước thất bại (Learn to laugh at failure)
  • Thực hành lòng trắc ẩn và tha thứ cho bản thân.

Câu hỏi cho bản thân

  • Tôi thường làm những việc ngốc ngếch nào đáng để làm rối tung cuộc sống của mình? (What remarkably stupid thinks am doing on a regular basic to absolutely mess up my life?)
  • Bạn muốn gì? Bạn thực sực muốn gì? Hãy trả lời một cách cụ thể và nhắc nhỡ bản thân mỗi ngày. (what do you want, what do you really want? Be absolutely specific and remind yourself everyday)  

Chính lòng trắc ẩn mới là cội nguồn của mọi đạo đức


Giấc ngủ REM và Non-REM

Có 2 loại giấc ngủ: Non-REM và REM

- Giấc ngủ NON-REM: Giấc ngủ của não bộ. Mục đích chính của giấc ngủ này là loại bỏ căng thẳng và bài tiết hoóc-môn. Trong khi não bộ nghỉ ngơi, cơ thể sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, chức năng miễn dịch tăng cao, tiến hành duy trì và bảo vệ các tế bào.
Nếu bị đánh thức khi đang chìm trong giấc ngủ NON-REM. cả não bộ và cơ thể sẽ cảm thấy buồn ngủ, rơi vào trạng thái thiếu ngủ trầm trọng.
Nguyên nhân là ở giấc ngủ này, não bộ được nghỉ ngơi, cơ thể trong trạng thái được khôi phục". Lúc này não bộ không thể có sự chuẩn bị triệt để cho việc thức giấc. 

- Giấc ngủ REM: Là giấc ngủ của cơ thể. Cơ thể sẽ trong trạng thái nghỉ, não bộ hoạt động. Mục đích chính ở giai đoạn này là làm cố định ký ức và khôi phục sự mệt mỏi của cơ bắp. Não bộ hoạt động hăng hái với mục đích thực hiện "sắp xếp" và "tái cấu trúc" ký ức.
Trong số những thông tin não bộ phải tiếp nhận là khi con người thức giấc, não bộ sẽ chỉ lấy đi những thông tin cần thiết với bản thân bạn, tiến hành tái xử lý. Nó mang lại chức năng giống như "tối ưu hóa" máy tính vậy.
Giấc ngủ REM là khoảng thời gian giấc ngủ đang trong trạng thái nong, vậy nên nếu bạn tỉnh giấc vào lúc này, bạn có thể thực dậy và bắt đầu ngày mới trong trạng thái dễ chịu và sảng khoái.

Độ sâu của giấc ngủ được chia thành ba giai đoạn:

  • Giấc ngủ NON-REM nông
  • Giấc ngủ NON-REM sâu
  • Giấc ngủ REM


Nhìn vào sơ đồ, con người sau khi chìm vào giấc ngủ và dần bước vào giấc ngủ NON-REM sâu, sẽ quay lại giấc ngủ NON-REM nông, khi ở giấc ngủ NON-REM nông nhất, chuyển sang giấc ngủ REM. Trạng thái não bộ hoạt động lúc này kéo dài khoảng 10-20 phút, sau đó lại chìm vào giấc ngủ NON-REM, giấc ngủ sẽ một lần nữa dần chuyển sang trạng thái sâu.

Giấc ngủ của con người sẽ là sự lặp đi lặp lại ba loại giấc ngủ này, để tiến hành phục hồi não bộ và cơ thể. 

Có thể nói khả năng cân bằng tốt giấc ngủ NON-REM và REM chính là hoạt động mà chỉ con người có được - sinh vật sở hữu bộ não thông minh và cao cấp.

Những loài vật không mang bộ não thông minh và cao cấp giống con người, nên chúng không cần phải có giấc ngủ NON-REM, phần lớn là có giấc ngủ REM để cơ thể chúng hoàn toàn được thư giãn mà thôi.

Tóm lại, đối với con người giấc ngủ NON-REM đóng vai trò quan trọng hơn bởi giấc ngủ này sẽ giúp con người giải tỏa mỏi mệt và căng thẳng trong trí não.
Đương nhiên, giấc ngủ REM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc "sắp xếp ký ức" nhưng tiền đề quan trọng hơn là đê não bộ được hoàn toàn nghỉ ngơi trong giấc ngủ NON-REM.

Tức là, giấc ngủ thích hợp nhất đối với con người chính là giấc ngủ mà đảm bảo sự cân bằng giữa giấc ngủ NON-REM và REM, đặc biệt phải chú trọng nâng cao chất lượng giấc ngủ NON-REM để có thể ngủ sâu hơn nữa.

Tham khảo sách "Ngủ ít vẫn khỏe - SATORU TSUBOTA" 

Tần số rung động

Trong vũ trụ này tồn tại 4 phạm trù chính: Không gian, thời gian, vật chất và năng lượng.
Mọi thứ trong Vũ Trụ này đều có năng lượng rung và chuyển động - mọi thứ mà bạn nhìn thấy, nghe, chạm đều rung động với một tần số này hay một tần số khác và bạn cũng vậy.
Bạn là năng lượng rung động và mọi thứ chung quanh bạn là năng lượng rung động, phòng bạn ngồi cũng vậy, thậm chí cảm xúc suy nghĩ và lời nói của bạn đều có năng lượng rung động
Mọi người và mọi vật xung quanh chúng ta đều được tạo thành từ vật chất. Vật chất được tạo thành từ các nguyên tử. Nguyên tử được tạo thành từ các hạt như proton, neutron, electron; và nếu nhìn sâu hơn nữa, bạn sẽ thấy rằng đó là những sóng năng lượng rung động ở các tần số (tốc độ) khác nhau.

Thế nào là tần số cao và tần số thấp?
  1. Tần số rung động nặng nề là tần số rung động thấp còn gọi là năng lượng tiêu cực. Những người có tần số rung động thấp thường có cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực như nóng giận, ganh ghét, ghen tị, thiếu kiên nhẫn, nghi ngờ v.v…
  2. Tần số rung động thanh nhẹ là tần số rung động cao còn gọi là năng lượng tích cực. Những người có tần số rung động cao thường tử tế, đồng cảm, giàu lòng từ bi, yêu thương vô điều kiện v.v…
Tần số rung động cao hoặc thấp được chuyển đổi rất nhanh, tùy thuộc vào từng thời điểm bạn nóng giận hay yêu thương, đồng cảm hay đố kỵ… sóng tần số sẽ lên xuống nhanh hay chậm, tần số càng nhanh càng thanh nhẹ, càng chậm càng nặng nề.

Nếu các bạn để ý sẽ thấy khi chúng ta vui vẻ (rung động cao) chúng ta có cảm giác tràn đầy năng lượng, hớn hở, thân thể nhẹ nhàng, cảm giác người căng phồng lên. Vì rung động nhanh sẽ khiến cơ thể chúng ta dãn nở và chúng ta có đặc tính cho đi, lan tỏa (Phải có năng lượng thì mới cho đi được). Đây chính là điều lý giải vì sao các nhà tu hành có thể chạy trên nước hoặc bay được. Tần số càng cao trọng lượng càng giảm, khi tần số đủ cao hiện tượng phản trọng lực sẽ diễn ra và chúng ta có thể bay được với thân thể ánh sáng 5D

Khi bạn buồn rầu (rung động thấp) bạn sẽ cảm thấy chán nản, ủ ê, người như đeo đá tảng, nặng nề. Nếu lo sợ còn có cảm giác co rúm người lại. Vì vậy các đặc tính cảm xúc tiêu cực có đặc tính co vào, cần được chia sẻ, an ủi (hút năng lượng)

Theo đó, mỗi người có một tần số rung động hay mức năng lượng khác nhau tùy theo cảnh giới tinh thần của họ, nằm trong khoảng từ 1 đến 1000.

Cơ thể chúng ta được chia làm 2 phần:
  1. Thân thể vật lý (đặc và rung động chậm)
  2. Linh hồn (thanh nhẹ và rung động cao)
Lý thuyết giao thoa sóng: Hiện tượng 2 sóng kết hợp, khi gặp nhau ở những điểm xác định, luôn luôn hoặc tăng cường nhau tạo thành cực đại hoặc làm yếu nhau (tạo thành cực tiểu) gọi là sự giao thoa sóng.
Điều kiện để có giao thoa: Hai sóng là hai sóng kết hợp tức là hai sóng cùng tần số và có độ lệch pha không đổi theo thời gian (hoặc hai sóng cùng pha)

Khi gặp người trong mộng trái tim lập tức đập dồn dập và tỏa ra một nguồn năng lượng rung động cao khiến cơ thể chúng ta lâng lâng, ngây ngất (mới là đơn phương). Nếu cả 2 người đều phát ra tần số sóng yêu thương, cùng tần số, cùng pha thì sẽ xảy ra hiện tượng giao thoa sóng và cộng hưởng tăng tần số rung (đây chính là tình yêu sét đánh)
Thông thường nguồn năng lượng mạnh mẽ này sẽ kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần hoặc nhiều tháng nếu người đó không để mất năng lượng vì các cảm xúc tiêu cực và liên tục được bổ sung năng lượng của tình yêu thuần khiết. Đây cũng chính là nguyên lý thoát khổ của các bậc chân sư, họ luôn giữ được tần số rung động cao của mình thông qua việc chế ngự tâm, không để các cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng khiến họ mất năng lượng.

Tuy tần số năng lượng của tim là khá cao (lớn hơn 500) nhưng tần số đó vẫn không cao bằng tần số rung động của sự minh triết (hiểu biết). Cho nên nếu bạn quan tâm đến tần số rung động hãy quan tâm đến trí tuệ và tình yêu thương.

Virus và vi khuẩn chỉ có thể gây nguy hiểm cho cơ thể vật lý nếu bạn sống ở tần số rung động thấp, khi các luân xa của bạn bị tắc nghẽn bởi nỗi sợ hãi, tội lỗi, xấu hổ, đau khổ, ảo tưởng, chấp trước (dính mắc với cái tôi).
Hệ thống miễn dịch sẽ yếu đi vì hệ thống thần kinh của bạn bị tấn công.

Bạn có biết bạn chính là một trong những dây chuyền sản xuất ra một loại thực phẩm đặc thù (năng lượng tiêu cực) cho ký sinh trùng ngoài vũ trụ. Thực thể bóng tối này bám vào hệ thống thần kinh để đánh cắp sinh lực sống của bạn.

Khi bạn tăng rung động vĩnh viễn thông qua việc thiền định, các ký sinh trùng vũ trụ này sẽ phải tránh xa bạn vì ánh sáng của bạn quá mạnh đối với chúng, vì vậy bạn không thể bị nhiễm bệnh được, vì virus và vi khuẩn bị đốt cháy khi chúng xâm nhập vào cơ thể bạn. Virus không thể sống sót nếu cơ thể ánh sáng của bạn được tích hợp với cơ thể vật lý của bạn.

Luật rung động

Luật Rung động áp dụng cho mọi thứ bạn nghĩ, tin tưởng, hành động, dự định và lời nói.

Bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những điều tốt đẹp sẽ gia tăng tần số cao hơn khi nó di chuyển qua thời gian và không gian cho đến khi nó trở lại với người gửi và mang theo nó những món quà - gọi là phép màu - của những tần số cao hơn. Ngược lại, bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những lý do ích kỷ như tham lam hoặc ganh ghét sẽ mang lại sự rung động với tần số thấp hơn, nghĩa là những điều kém may mắn, bất lợi, phiền muộn v.v... sẽ xảy đến cho chúng ta. Điều này cũng giống như luật nhân quả “trồng nhân gì thì được quả đó”.

Nếu không thích những gì bạn đã thu hút trong cuộc sống của mình thì hãy nâng cao tần số rung động của bạn lên. Để bắt đầu nâng cao tần số rung động, bạn chỉ cần tập trung vào những điều tốt đẹp thay vì những điều bi quan và tiêu cực.

Nâng cao tần số rung động một cách nhanh chóng.

Ăn chay và yêu thương sẽ tự động nâng cao tần số rung động của chúng ta một cách nhanh chóng.
Trái cây, rau cải, đậu hạt có nhiều dưỡng chất và phòng chống bệnh để cơ thể chúng ta không đau đớn vì bệnh tật và như vậy chúng ta sẽ có một cuộc sống khỏe mạnh dài lâu. Đây cũng là một điều tích cực và những gì tích cực sẽ tăng cao tần số rung động của chúng ta. Thực vật là loài có rung động tốt, cao; 
Hoa cải
Ngược lại thì thịt động vật luôn chứa rung động thấp. Khi con thú bị giết, chúng phát ra 1 năng lượng sợ hãi lớn. Năng lượng này tỏa ra xung quanh và “ngấm” sâu trong thịt, khi ta ăn thì “oán khí” ấy vào bụng và sẽ sinh ra nhược khí gây nên ung thư. Đó là kiến thức của bên tâm linh, còn khoa học thì chứng minh rằng khi thú bị giết, nó sợ hãi và trong thịt sinh ra 1 chất độc, người ăn vào sẽ không tốt. 2 trường phái đều bù trừ cho nhau thế đấy. Người ta cũng đã chụp thể năng lượng của thịt và hoa quả, xong kết quả cho chúng ta biết rằng hoa quả dù bị vặt trên cây từ nhiều ngày nhưng vẫn tỏa ra 1 vùng ánh sáng tốt.
Có thể một số bạn vẫn còn thắc mắc vì câu trả lời bên trên không đủ để thuyết phục thì các bạn hãy thử ăn chay một thời gian rồi bạn sẽ rõ.

Âm nhạc: là một trong những công cụ dao động tuyệt vời nhất chúng ta có vì nó vượt qua mọi ranh giới và từng bước vượt qua bản ngã. Bản ngã không chống lại tần số cao của âm nhạc. Vì vậy, khi dùng âm nhạc sẽ rung động của riêng bạn tác hợp với tần số của âm nhạc mà bạn nghe. Hoặc thường xuyên tiếp xúc với những âm thanh có tần số rung động nhất định cũng khiến nâng cao sự rung động của bản thân. Vậy nên hãy hát om mani padme hum mỗi khi rảnh rỗi nhé các bạn.

Đọc sách: Bất cứ điều gì là cảm ứng sẽ tăng tần số của bạn. Vì vậy đọc sách mà làm cho bạn cảm thấy tốt về bạn thân trong thế giới này, xem phim cũng sẽ làm cho bạn cảm thấy tốt và truyền cảm hứng cho bạn và làm cho bạn thức tỉnh để trở nên lộng lẫy như chính bạn.

Viết: Tôi thấy rằng quá trình viết rất tốt. Nó giúp bạn vươn lên một tần số cao vì các nỗ lực cần thiết để đạt được sẽ tăng cường sự rung động của bất cứ điều gì bạn tập trung vào. Hoặc có thể nếu bạn chỉ cần làm điều này thông qua sự tập trung. Ví dụ khi bạn lái xe bạn chỉ cần tìm kiếm khía cạnh tích cực ở nơi bạn vừa đi quá. Bạn có thể lắng nghe mọi thứ, bạn có thể vừa lái xe vừa nói: "Tôi thích màu sắc chiếc xe đó" hoặc "Tôi thích việc người mẹ đang ôm con mình trên tay". Bất cứ điều gì bạn thích khi bạn nhìn thấy rồi tập trung về suy nghĩ tích cực. Nó sẽ gây ra rung động cao. Đó chính là thái độ biết ơn, hãy đánh giá cao sự vật, sự việc bởi vì sự biết ơn là sự rung động gần nhất với rung động của Nguồn. Là tình yêu vô điều kiện tinh khiết khi bạn nhìn vào một thứ gì đó với thái độ đánh giá cao vì vậy bất cứ khi nào bạn tập trung hoàn toàn tức đang cộng hưởng với tần số cao nhất đó.

Ngoài ra, chỉ cần chúng ta yêu thương… Đúng vậy, chỉ cần chúng ta làm mọi việc - suy nghĩ, hành động, lời nói - với tình yêu thì mọi việc sẽ trở nên tích cực.
Như nhà bác học Albert Einstein đã viết: “Tình yêu là sức mạnh, bởi nó phát triển bản tính tốt đẹp nhất của ta để con người không bị dập tắt (che mắt) trong sự ích kỷ mù quáng...”
Nếu bạn có thể bao bọc mọi ý nghĩ trong tình yêu, và nếu bạn có thể yêu thương mọi người mọi thứ thì cuộc sống của bạn sẽ thay đổi - tiêu cực sẽ trở nên tích cực - khi tích cực là bạn đang nâng cao tần số rung động của mình.
Mỗi loại rung động sẽ phù hợp với 1 chiều kích riêng, khi rung động đủ cao thì bạn tiến lên 1 chiều kích khác. Mỗi người có 1 tần số riêng và nó thu hút những người có cùng tần số đến với nhau. Bạn là người duy nhất tăng được rung động chính mình. Quan trọng là sự lựa chọn của bạn.

Thiền định: cũng là cách để nâng cao tần số rung động một cách nhanh chóng.

Tham khảo tại: khoahoctamlinh.vn/khoa-hoc-tam-linh/tan-so-tam-linh/tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-875.html

Vô tình hay Hữu ý

Cứ ngỡ gặp nhau là vô tình nhưng lại là sự tính toán, sắp đặt... 
Rồi cứ ngỡ mọi chuyện sau này đều là những kế hoạch nhưng lại là những cảm xúc vô tình... Nhưng dù vô tình hay hữu ý, đã gặp được nhau, tất cả chẳng phải đều là "Duyên" sao?

Nếu ta mở cửa nhìn thấy cái cây ở ngoài sân, tức là: phải có cái cây, phải có mắt ta, nhưng cửa phải mở thì ta mới thấy, nhưng cửa mở mà bên ngoài tối đen cũng không thấy nên cần phải có ánh sáng, rồi còn phải có cơ hội, có nhân duyên để đến ngồi trong căn phòng đó, để nhìn ra cái cây đó. Hội đủ thứ đó lại trong một không gian trong một thời gian, ta có thể gọi là Duyên.

Tôi mượn cuốn sách về đọc cuối tuần, có bạn nhờ tôi chuyển đồ đến cho một người chưa từng biết ở gần nhà, người lạ ấy lại giúp tôi giải thích được những nội dung trong cuốn sách mà tôi chưa thể hiểu, tôi lại bị lôi cuốn bởi những tố chất và lời nói chân thành và món bánh rất ngon từ người lạ ấy.

Tôi đang tự hỏi, cái nào là vô tình – cái nào là hữu ý.
Nếu là một tín hiệu tốt, xin hãy giúp tôi đủ trí tuệ để sáng suốt cảm mến được trái tim băng giá của cô gái ấy!



Nguyên văn lời thề Hippocrates

“Tôi tuyên thệ với Apollo, thần chữa bệnh, Asclepius, Hygieia và Panacea, và tôi minh chứng với tất cả các nam thần, các nữ thần, tôi gìn giữ, tùy theo khả năng và thẩm định của tôi, lời thề sau đây:

Yêu kính, như là cha mẹ tôi, người đã dạy tôi môn học này; sống hòa nhã với thầy và nếu cần, chia sẻ tài sản với thầy; chăm sóc con cái thầy như là anh chị em tôi và dạy họ môn học này.

Tôi sẽ kê toa vì lợi ích của bệnh nhân, tùy theo khả năng và thẩm định của tôi và không bao giờ làm hại ai.

Tôi không bao giờ đưa thuốc giết người cho bất kỳ ai hỏi tôi và sẽ không tư vấn một kế hoạch như vậy. Tôi sẽ không cho bất kỳ người phụ nữ nào một dụng cụ phá thai.

Nhưng tôi sẽ giữ tinh khiết cho đời tôi và cho nghề nghiệp của tôi.

Tôi sẽ không giải phẫu để lấy sạn, kể cả đối với bệnh nhân biểu lộ là mang bệnh này. Tôi sẽ dành việc giải phẫu cho những y sĩ, chuyên gia về bệnh này.

Mỗi căn nhà tôi bước vào vì lợi ích của bệnh nhân của tôi, giữ gìn tôi khỏi mọi ý đồ xấu xa và mọi cám dỗ, đặc biệt là khỏi các khoái lạc tình yêu với phụ nữ hay với nam giới, dù họ là người tự do hay nô lệ.

Tất cả mọi điều tôi biết trong khi hành nghề hay trong giao tiếp với mọi người mà không nên để lộ ra ngoài, tôi sẽ giữ bí mật và sẽ không bao giờ tiết lộ.

Nếu tôi giữ lời thề này một cách thành khẩn, tôi sẽ được an hưởng đời tôi và thực hành nghề tôi, được mọi người kính trọng mãi mãi. Nếu tôi đi trái đường và vi phạm lời thề, những điều ngược lại sẽ đến với tôi”.

Hippocrates Asclepiades
Hippocrates Asclepiades

Sưu tầm từ internet

5 cây cảnh trồng lọc không khí trong nhà

Cây lưỡi hổ
Theo Organic Life, nhiều gia đình, văn phòng làm việc, quán cà phê trồng cây lưỡi hổ, tên tiếng Anh là Snake plant. Loại cây này có ưu điểm là không đòi hỏi nhiều công chăm sóc, giá thành rẻ lại có tác dụng lọc khí khá tốt. Cây hấp thụ carbonic và nhả oxy vào ban đêm, trái ngược với quá trình hô hấp thông thường của con người. Cây cần ít ánh sáng, nước giúp cải thiện chất lượng không khí.

Cây trầu bà
Cây trầu bà, tên khoa học Scindapsus aures, loại cây trồng quen thuộc với các gia đình Việt Nam. Cây này xếp ở vị trí số một trong danh sách cây có khả năng lọc các chất formaldehyde, carbon monoxide và benzen trong không khí. Các chất độc này xuất phát từ sơn nước, vật dụng trang trí nhà cửa và dễ gây dị ứng, ho.
Trồng cây trầu bà là cách tự nhiên và đơn giản để nâng cao chất lượng không khí. Cây trầu bà phát triển một cách dễ dàng ở nhiệt độ mát mẻ và cần ít ánh sáng mặt trời. Nhiều gia đình trồng cây trong khu vực nhà vệ sinh, trước hiên nhà.
Cây cọ cảnh
Cây cọ cảnh là “bộ máy” lọc amoniac, vốn là thành phần chính trong chất tẩy rửa, dệt may và thuốc nhuộm, một cách hiệu quả. Cây cọ cảnh với tên khoa học Rhapis excelsa, là loại cây rất dễ trồng, không khó chăm, thường được trồng trong các văn phòng, góc phòng khách để không khí trong lành.
Cây nha đam
Cây lô hội tên khoa học là Aloe vera, được biết đến với chức năng làm thức ăn, thuốc chữa bệnh, nhưng chức năng làm sạch không khí khá hiệu quả thì ít người biết đến. Đặc biệt, cây lô hội còn có khả năng hiển thị lượng ô nhiễm trong không khí vượt quá mức cho phép qua những đốm nâu trên thân cây. Có thể trang trí chậu nha đam trên bàn làm việc, phòng tắm, nhà ăn đều phù hợp.
Hoa buồm trắng
Loại cây có tên khoa học là Spathiphyllum. Đây là một trong số ít các cây giúp lọc không khí có hoa nên là sự lựa chọn hợp lý để làm đẹp không gian sống. Cây dễ chăm sóc, sống tốt trong bóng mát và nhiệt độ thường. Tuy nhiên, cây có thể gây độc hại đối với vật nuôi, vì vậy hãy cẩn thận với nó nếu bạn có con vẹt hoặc vật nuôi khác.
Nguồn: vnexpress.net

25 Ways to Run Faster—Stat

Usain Bolt makes sprinting look easy. It’s almost as if he doesn’t have to try. But we’ll let you in on a little secret: Sure, Bolt is more of a natural runner than we are, but he still has to work at it in order to keep himself in top form. Even better news? There are tons of steps you can take to run faster, smoke the competition, and maybe even sent a new PR.

1. Nail good form.
The key to running (at any speed) is to practice proper running technique. That means keeping your upper body tall yet relaxed, striking the ground with your mid-foot landing under your hip, and swinging your arms forward and back (not side to side!) at low 90-degree angles.

2. Count your steps.
Get familiar with stride turnover—the rate of steps you take while running, regardless of pace. The fastest, most efficient runners have a cadence of around 180 steps per minute and keep their feet close to the ground with light, short, and speedy steps. To find your magic number, run for one minute, count the number of times the right foot hits the ground, and multiply by two.

3. Try interval training.
Short on gym time? Try interval training. Alternate periods of high and low intensity while exercising to build speed and endurance—and burn major calories in less time too!

4. Don't forget to sprint.
There's a reason you see all those “real runners” doing short sprints before the big road race. Strides are a series of comfortable sprints (usually eight to 12, between 50 and 200 meters each) to improve acceleration technique.

5. Make the treadmill your friend.
The treadmill's belt assists with leg turnover, so it's actually easier to run faster. Plus, you have the power to push the pace right at your fingertips. Just make sure you get on the machine before turning up the dial.

6. Stretch daily.
The jury is still out on static stretches—it's unclear if they really prevent running injuries.  But leaders of the pack know stretching daily (especially targeting those hip flexors) increases flexibility for better strides.

7. Switch up your pace.
Fartleks is a funny Swedish word (yes, our inner 10-year-old finds it hilarious) meaning “speed play.” Alternating jogs and sprints gradually builds up speed and endurance, plus you call the shots in determining when to switch it up.

8. Jump rope.
Take a lesson from boxers and add jump rope workouts to your routine. Boxers know that fast feet mean fast hands. But for runners, fast feet just equal fast feet.

9. Trade up for lighter shoes.
We're not saying you need to embrace barefoot running, but sneakers are getting lighter and lighter to mimic your foot's natural movement and improve your stride. Try a minimalist pair to see if less weight means more energy for faster feet.

10. Work out your core.
Stronger core muscles (especially lower abs) allow runners to tap into more force out on the road. The best part? Just 15 minutes of core work a few days per week is enough to help you speed up.

11. Change how you breathe.
Learning how to breathe while running at faster speeds takes practice. Use both your nose and mouth while inhaling and exhaling to get the maximum amount of oxygen to the muscles. Also, try belly breathing—fill the stomach, not the chest, with air on each inhale.

12. Head for the hills.
Hill repeats are shown to improve speed, build muscle strength, and add a boost of confidence too.

13. Skip the sweets.
Junk food guarantees a sugar high and slows you down. Stick to whole grains and pasta before runs, which provide long-lasting energy—without the crash.

14. Play with resistance.
Try a running parachute for added resistance, or if your budget allows, see what it's like on the other edge of the resistance spectrum with an anti-gravity treadmill.

15. Lift weight.
Stronger, leaner muscles will help you get to the finish line faster. And while runners shouldn't take up bodybuilding, two short strength training sessions per week can go a long way in improving your speed.

16. Lose weight.
On the other hand, research shows that shedding the pounds (fat, not muscle) can help runners shave time off the clock—cutting an average of two seconds off your mile time for every pound you lose. Of course not everyone has the weight to lose, so remember to consult a physician before starting any weight-loss program.

17. Look ahead.
Looking down at your feet or turning your head to check out the competition can waste precious time. Instead, focus on what's directly in front of you—about 10 to 20 meters in the distance—and keep those eyes on the prize.

18. Go for a spin.
Indoor cycling gives your hips a workout while forcing your legs to get comfortable moving from slow leisurely rides to all-out sprints. The same goes for running. So hop on a bike and get ready for some cross-training.

19. Pay attention to your toes.
The whole body plays a role in speed—from your head to your toes! Try dorsiflexion (arching your toes up toward you shins) while running. That way less of your foot hits the ground for a quicker stride turnover.

20. Keep it steady.
Slow and steady may win the race, but fast and steady builds speed! A tempo run challenges runners to find a “comfortably hard” pace and hold it for a 20-minute period. Just don't burn out before the run is over like that silly little hare!

21. Drink coffee.
Turns out drinking caffeine before running gives you an extra jolt of speed. Even more good news? It's a totally legal performance enhancer.

22. Do mountain climbers.
The combo of moving your feet quickly while assuming a plank position will make you crazy fast.

23. Try yoga.
Get a leg up on fellow runners by adding yoga to your training plan. The increased flexibility from runner-specific positions makes you faster and speeds up aids recovery.

24. Get enough shut-eye.
Studies show well-rested athletes have better reaction times and clock faster finishes.  And think about it—the faster you run, the more time you have to kick back and relax!

25. Strip down.
When it's finally race day, take it off! The extra layers and fuel belts, that is. The less clothing and gear on your body, the faster your time—which is why the pros practically get right down to their skivvies to run.

Source: ___https://greatist.com/fitness/25-ways-run-faster-now

Uống nhiều cà phê sữa dễ hại gan

Cà phê sữa hay cà phê sữa đá là món “nghiền” của nhiều người mà không biết rằng nó rất độc hại với gan và gây nhiều bệnh lý cho cơ thể.


GS.TSKH Bùi Quốc Châu, giám đốc Trung tâm Diện chẩn liệu pháp cho biết, theo dõi trên nhiều bệnh nhân thì thấy có mối liên quan giữa bệnh sỏi túi mật, bệnh viêm gan vàng da vàng mắt, viêm gan siêu vi, nặng hơn là xơ gan với món cà phê sữa, cùng với cà phê sữa đá và món trứng sữa.

Trước năm 1975, có một cuốn sách viết về dinh dưỡng của DS Trương Kế An, có đoạn viết rằng: “Cà phê sữa là một thức uống rất khó tiêu đối với gan”. Hợp chất cà phê và sữa phá hoại hoạt động của gan khiến gan không xử lý và phân hóa nổi nên tạo cho người uống cảm giác no giả, không thấy đói, chán ăn, nghĩa là rất giống triệu chứng của bệnh đau gan.


BS Phùng Hoàng Nam, Bệnh viện Nhi TƯ, cho biết, chất cafein có tác dụng kích thích rõ rệt đối với hệ thống thần kinh nên sử dụng thường xuyên sẽ không chỉ gây nghiện, gây ngộ độc, dễ bị kích thích, bồn chồn, sợ hãi.


Cơ chế gây độc là chất cafein hấp thu rất nhanh và phân bố toàn cơ thể, đặc biệt là ở gan thành chất hoạt tính là methylxanthine có tác dụng dược lý trên não gây sảng khoái, làm tăng sự tỉnh táo và tăng hoạt tính tâm thần.


Ở người lớn, tác dụng của cafein kéo dài 6-12 giờ với thời gian bán hủy là 6-8 giờ. Ở trẻ nhỏ, thời gian chuyển hóa chậm hơn tùy theo lứa tuổi và thời gian bán hủy kéo dài hơn 24 giờ. Cơ thể nhậy cảm hơn với cafein nên cũng dễ nhiễm độc.


Đặc biệt hơn nữa, theo GS.TSKH Châu là thói quen uống cà phê sữa ở Việt Nam không giống như nước ngoài là uống với sữa gầy hoặc sữa tươi... mà uống với sữa đặc có đường. Yêu cầu bảo quản sữa đặc là không quá 10oC và hạn sữa không quá 2 năm.


Tuy nhiên, dù được bảo quản kỹ thì sau 12 tháng thường là sữa có hiện tượng sẫm màu, đặc hơn, có khi đóng thành bánh và khi pha nước nóng sữa không tan hoàn toàn vì có cặn, phốt pho, can-xi...


Cà phê có độc, sữa khó tiêu cộng với đá lạnh gây xáo trộn nhiệt độ cơ thể một cách vô ích và làm cơ thể càng lúc càng suy yếu, đặc biệt mang nặng sức cản đối với các hoạt động của gan, khiến gan phải gồng mình ra xử lý, dẫn tới bị bệnh. Vì vậy, các chuyên gia đều khuyên, nên hạn chế uống cà phê đá với sữa đặc.

Theo Nhật Hà

Bee.net
"Nụ cười giáng sinh"

"Nụ cười giáng sinh"

"Em là ai...?"

"Em là người nhiệt tình nhất trong các chương trình, các tiết mục văn nghệ trong chương trình Giáng Sinh 2009 hôm 13/12 tại TT Nuôi dưỡng trẻ mồ côi, khuyết tật và người già cô đơn Ba Vì."

"Đôi tay bé nhỏ chỉ còn 4 ngón tay không trọn vẹn, một bàn chân tập tễnh, một khuôn mặt không xinh tươi...

"Những điều đó không khiến em mặc cảm, mà nó làm những người xem em trình diễn thêm khâm phục trước sự cố gắng của em mà thôi."

"Mong một giáng sinh an lành cho em và những người bạn của em trong ngôi nhà bé nhỏ tại Ba Vì này."

"Các em không biết mình là ai.."

"Mắt em nhìn thấy gì?"

"Em không nói chuyện được với các bạn.. Em không biết chuyện gì xảy ra cho em.. Có lẽ em cần một bàn tay..'' (Hình này được trao Flickr Award)

Ảnh của Phạm Nam Long (Từ Bbc.co.uk)

Nụ hôn có lợi cho phái đẹp

Nụ hôn có lợi cho phái đẹp

Các nhà khoa học tin rằng hành động hôn được truyền qua nhiều thế hệ do nó giúp phụ nữ tăng cường hệ miễn dịch.

Trước đây nhiều nhà khoa học khẳng định hôn là một trong những cách để một cá nhân cảm nhận bạn tình có phải là đối tượng để chung sống trọn đời hay không. Theo họ thì nước bọt mà hai bên trao đổi với nhau khi hôn giúp chúng ta đánh giá khả năng sinh sản, sức khỏe và chất lượng gene.

Nhưng các nhà tâm lý của Đại học Leed và Đại học Central Lancashire (Anh) cho rằng con người có thể đánh giá những yếu tố trên mà không cần phải có tình cảm thắm thiết.

"Chúng ta hoàn toàn có thể lấy được thông tin về mùi cơ thể, khả năng sinh sản, sức khỏe, chất lượng gene và nhiều thứ khác của một người bất kỳ bằng cách tới gần người đó, chứ không cần thực hiện sự tiếp xúc giữa hai cái miệng. Hôn chỉ giúp chúng ta lấy được một chút thông tin ít ỏi. Điều đó không thể là nguyên nhân khiến nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác", tiến sĩ Colin Hendrie, một nhà tâm lý của Đại học Leeds, khẳng định.

Một nghiên cứu của Hendrie và cộng sự chứng minh rằng, trong quá trình hôn, nữ giới tiếp nhận Cytomegalovirus - một loại virus tồn tại trong nước bọt. Trong điều kiện bình thường virus này không gây nên bất kỳ vấn đề nào. Nhưng khi phụ nữ mang thai nó có thể giết chết hoặc gây nên một số dị tật ở bào thai (như đầu nhỏ, bệnh tim bẩm sinh). Do nam giới truyền virus sang nữ giới qua nụ hôn nên hệ miễn dịch của phái đẹp có đủ thời gian để chống lại nó.

Hendrie cho rằng, khi mối quan hệ tình cảm giữa nam và nữ tiến triển, nụ hôn sẽ ngày càng trở nên nồng nàn hơn. Nữ giới hôn càng nhiều thì hệ miễn dịch càng khỏe, nhờ đó họ giảm được nguy cơ mắc bệnh. Khi người phụ nữ mang thai, nguy cơ mắc bệnh của đứa con chưa chào đời cũng giảm.

Trong một bài viết trên tạp chí Medical Hypotheses, tiến sĩ Hendrie phát biểu: "Hôn là một trong những cách truyền virus và nước bọt hiệu quả nhất qua đường miệng của con người. Nhưng khả năng chống chọi bệnh tật của hệ miễn dịch chỉ đạt mức hiệu quả nhất nếu phụ nữ hôn một người đàn ông duy nhất từ 6 tháng trở lên".

Minh Long (Vnexpress)
Cách nhận biết và xử trí cúm H1N1:

Cách nhận biết và xử trí cúm H1N1:

Dấu hiệu của ung thư vú

Ung thư vú đã vượt qua ung thư cổ tử cung, trở thành loại ung thư hàng đầu ở nữ giới. Phần lớn u xảy ra ở phụ nữ độ tuổi 35-45, hiếm khi xảy ra dưới tuổi 30.

Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra các nguyên nhân chủ yếu làm tăng nguy cơ mắc bệnh này là: tiền sử gia đình bị ung thư vú; có vài xáo trộn của tuyến vú; sự đột biến của một số gene; chịu tác động lâu dài của oestrogen (phụ nữ có kinh trước 12 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi); dùng thuốc nội tiết trong thời gian dài; không sinh con hoặc có con đầu lòng sau 30 tuổi; không cho con bú mẹ; hút thuốc lá và uống rượu; ăn nhiều thịt, chất béo; cơ địa béo phì.

Đa phần ung thư vú được chính người bệnh phát hiện, khi họ nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú.

Ở giai đoạn sớm, bệnh thường không có các biểu hiện rõ rệt và không gây đau đớn cho người bệnh. Khi khối u tiến triển, người bệnh sẽ thấy có các triệu chứng sau: khối u cứng, không đau, không đồng nhất, bờ không rõ, dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động; vú to ra hoặc có thay đổi hình dáng của vú, núm vú bị lún hoặc xù xì, chảy máu; da vùng vú dày lên hoặc thay đổi màu sắc, sần sùi như vỏ quả cam...

Khi thấy có bất cứ dấu hiệu nào kể trên, chị em nên đến ngay chuyên khoa ung bướu để khám. Càng phát hiện sớm bao nhiêu thì khả năng chữa trị càng hiệu quả bấy nhiêu. Đối với các bệnh nhân có khối u vùng vú bị nghi ngờ ung thư, bác sĩ thăm khám toàn bộ để đánh giá cục u là lành tính hay ác tính và cho thực hiện các xét nghiệm để phân biệt khối u đó là dạng khối lỏng hay khối đặc (lành hoặc ác), sinh thiết để có đánh giá chính xác nhất.

Khi đã xác định khối u đó là ác tính, thầy thuốc sẽ tiến hành các xét nghiệm đặc biệt để biết bản chất của ung thư, biết ung thư còn tại chỗ hay đã xâm lấn sang các mô lân cận. Khoảng 95% các trường hợp ung thư vú đều là dạng xâm lấn.

Căn cứ theo mức độ phát triển và xâm lấn của khối u, người ta chia thành 3 nhóm để áp dụng phương pháp điều trị phù hợp: Nhóm 1: khối u dưới 2cm, không thấy hạch nách và không có di căn xa; nhóm 2: khối u lớn hơn 2cm, có hoặc không có hạch nách, chưa có di căn xa; nhóm 3: ung thư ăn lan tại chỗ rất nhiều hoặc các ung thư có di căn xa.

Với tiến bộ của y học, việc điều trị bệnh cho kết quả khả quan: Tỷ lệ khỏi bệnh 5 năm như sau: nhóm một khoảng 80-90%, nhóm hai khoảng 40-75%, nhóm ba khoảng 15%. Tuy nhiên, muốn kết quả điều trị tốt, sau đợt điều trị, người bệnh cần phải đi khám định kỳ 2 - 3 lần mỗi năm để thầy thuốc nắm được diễn tiến của bệnh, nếu có di chứng và biến chứng sẽ kịp thời xử trí.

Chị em cũng nên tự khám vú để phát hiện sớm bệnh theo cách sau:

- Đứng trước gương, ở trần, cánh tay buông xuôi hai bên hông, rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiêng nhẹ người tới trước. Quan sát cả hai vú xem có thay đổi gì về kích thước (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), da vú (da cam, da lõm xuống). Ấn nhẹ núm vú xem có máu hoặc chất dịch tươm ra ở đầu vú không.

- Nằm ngửa, kê gối hoặc khăn xếp lại dưới vai bên phải, tay phải để sau gáy, dùng các ngón tay trái (bàn tay xòe thẳng), nhẹ nhàng ép sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu từ phần trên, rồi đến phần dưới vú, cuối cùng là núm vú, nhằm tìm một cục u (khối u, khối bướu). Khi khám vú trái thì đổi ngược tư thế.

- Khám vùng nách để tìm hạch.

Nên khám khi đã sạch kinh, vú ít căng, phải dùng bàn tay xòe với các ngón tay thẳng đè tuyến vú áp vào thành sườn, lần lượt rà khắp cả tuyến vú, nếu thấy có cục cộm rõ thì mới đúng là cục u.

(Theo Sức khỏe và Đời sống)

Món ăn giúp 'con giống' khỏe

Nếu chồng bị chứng vô sinh do tinh trùng ít, tinh trùng bị khiếm khuyết thì bạn có thể nấu cho chàng những món ăn như: cháo cá ngựa nhân sâm, ngao xào hẹ, đuôi heo hầm...

Sau đây là một vài món ăn có tác dụng cải thiện tinh trùng do bác sĩ Võ Thị Thu, khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Y học cổ truyền giới thiệu:

- Cật heo xào đỗ trọng: cật heo 250g, đỗ trọng 25g, mỡ, xì dầu, giấm, gia vị, hành, tỏi, rượu mỗi thứ một ít. Cật heo rửa sạch, bóc bỏ màng gân và chất hôi, thái mỏng. Đỗ trọng rửa sạch, sắc nước còn 50ml. Bắc chảo lên bếp, phi thơm hành, tỏi rồi cho cật heo vào đảo nhanh tay, cho gia vị, nước đỗ trọng vào, khi cật chín bắc xuống. Món này có thể dùng với cơm.

- Cháo cá ngựa nhân sâm: cá ngựa 20g, tôm tươi 20g, nhân sâm 20g, hoàng kỳ 20g, liên nhục 30g, kỷ tử 16g, gạo tẻ 50g và gừng 4g. Gạo vo sạch, cá ngựa và tôm giã nhuyễn, rồi cho các nguyên liệu cùng lượng nước vừa đủ đem nấu cháo. Nấu vừa chín tới, cho gừng vào, nêm nếm gia vị. Dùng lúc còn nóng ấm.

- Ngao xào hẹ: thịt ngao 40g, rau hẹ 60g, hành, gừng, rau mùi, dầu, gia vị mỗi thứ một ít. Thịt ngao rửa sạch, thái nhỏ. Rau hẹ rửa sạch thái khúc. Cho chảo lên bếp, đổ dầu thực vật vào phi thơm hành rồi cho thịt ngao và rau hẹ vào đảo nhanh, nêm gia vị. Mỗi ngày ăn một lần, ăn cùng cơm.

- Đuôi heo hầm: đuôi heo 250g, đỗ trọng 250g, xuyên đoạn 250g. Hầm nhừ với gia vị vừa ăn, ăn liên tục bảy ngày.

- Tôm nõn xào hẹ: tôm nõn 250g, rau hẹ 200g. Dùng dầu mè xào to lửa, khi chín cho thêm gia vị mắm muối vừa đủ rồi ăn với cơm.

- Thịt dê nấu cà rốt: thịt dê 500g, cà rốt 500g. Hầm nhừ chung hai thứ, với gia vị tùy thích, mỗi ngày ăn một lần, ăn liền bảy ngày.

- Gan heo xào rau chân vịt: gan heo 100g, rau chân vịt 50g, đem xào chín với gia vị. Ăn với cơm.

- Gà trống hầm nhừ: gà trống một con, cẩu khởi tử 20g, hoàng tinh 20g. Gà làm thịt, moi ruột, rửa sạch, cho hai vị thuốc vào hầm nhừ để ăn.

- Gan dê xào hẹ: gan dê 200g, rau hẹ 200g. Gan dê thái mỏng, cho dầu mè vào xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm.

- Cháo pín bò: pín bò 150g, dương khởi thạch 25g, bột hạt dẻ 25g, gạo tẻ 100g. Nấu dương khởi thạch lấy nước, dùng nước đó nấu cháo với pín bò và các nguyên liệu còn lại để ăn.

Ngoài ra, những thực phẩm sau cũng tác dụng đáng kể chất lượng tinh trùng như: thịt động vật (chó, hươu, cừu, bò...), thịt gia cầm (gà trống, vịt cạn, chim cút, chim sẻ, bồ câu đực…, trứng. Một số loại rượu cũng có tác dụng tích cực như: cá ngựa, rượu lộc tiên (cơ quan sinh dục ngoài của con hươu đực), rượu hải cẩu thận (cơ quan sinh dục ngoài của hải cẩu), rượu dâm dương hoắc.

(Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Những độc tính của cây trúc đào mà ta chưa biết!

Trúc đào là một trong những loài thực vật có độc tính cao nhất và chứa nhiều hợp chất có độc, nhiều hợp chất trong số này có thể gây tử vong ở người, đặc biệt là trẻ em.

Độc tính của trúc đào được coi là cực kỳ cao và đã có nhiều thông báo cho thấy trong một số trường hợp chỉ cần một lượng nhỏ cũng đã đủ gây hậu quả tử vong hay cận kề tử vong (Goetz 1998). Đáng kể nhất trong số các chất độc này là oleandrin và neriin, đều là các glicozit tim mạch (Goetz 1998). Chúng có mặt trong toàn bộ các bộ phận của loài cây này, nhưng chủ yếu tập trung trong nhựa cây.

Người ta cũng cho rằng trúc đào còn có thể chứa nhiều hợp chất chưa rõ hay chưa được nghiên cứu khác và chúng có các tác động còn nguy hiểm hơn (Inchem, 2005). Vỏ cây trúc đào chứa rosagenin, có các tác động tương tự như strychnin. Toàn bộ cây này, bao gồm cả nhựa cây màu trắng sữa là rất độc và bất kỳ bộ phận nào đều có thể gây ra các phản ứng có hại cho sức khỏe. Người ta cho rằng chỉ cần ăn phải từ 10-20 lá trúc đào thì một người lớn cũng có thể bị nguy hiểm đến tính mạng và chỉ cần 1 chiếc lá cũng có thể gây tử vong ở trẻ em.

Theo Toxic Exposure Surveillance System (TESS) năm 2002 đã có 847 trường hợp ngộ độc tại Hoa Kỳ có liên quan tới trúc đào (Watson 2003). Ở nhiều động vật, khoảng 0,5 mg/kg thể trọng đã gây tử vong (Inchem 2005). Tất cả các động vật đều có thể chịu các phản ứng có hại hay tử vong từ loài cây này.

Người ta cũng biết rằng trúc đào còn lưu giữ các chất độc ngay cả khi đã khô đi. Các bộ phận khô của loài cây này vẫn là rất nguy hiểm cho các động vật như cừu, ngựa, bò và các động vật gặm cỏ khác, với chỉ 100 g lá khô cũng đủ giết chết cả một con ngựa trưởng thành (Knight 1999).

Các triệu chứng ngộ độc
Oleandrin, một trong những chất độc có trong trúc đào

Ăn phải trúc đào có thể gây ra các triệu chứng đối với cả đường ruột và tim mạch. Các triệu chứng đường tiêu hóa có thể bao gồm buồn nôn và nôn mửa, tiết nhiều nước bọt, các tổn thương vùng bụng, tiêu chảy có thể lẫn hay không lẫn máu, và đặc biệt ở ngựa là đau bụng (Inchem 2005). Các triệu chứng đường tim mạch bao gồm loạn nhịp tim, đôi khi với đặc trưng là đầu tiên nhịp nhanh sau đó chậm dưới mức bình thường. Tim có thể đập thất thường và không có dấu hiệp của nhịp cụ thể.
Các trường hợp nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới nhợt nhạt da và lạnh do tuần hoàn máu kém hay không ổn định (Goetz 1998). Các tác động do ngộ độc loài cây này cũng có thể tác động tới hệ thần kinh trung ương. Các triệu chứng này có thể bao gồm thờ thẫn, run rẩy chân tay và các cơ, tai biến ngập máu, xẹp và thậm chí là hôn mê và có thể dẫn tới tử vong (Goetz 1998). Nhựa trúc đào có thể gây tấy rát da, sưng, tấy rát mắt nghiêm trọng và các phản ứng dị ứng đặc trưng của viêm da (Goetz 1998).

Xử lý y tế

Ngộ độc và các phản ứng đối với trúc đào là rất nhanh, đòi hỏi phải có sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi nghi ngờ (hoặc đã biết) là ngộ độc trúc đào ở cả người lẫn động vật (Goetz 1998). Trong mọi trường hợp phải đưa nạn nhân tới bệnh viện ngay. Kích thích gây nôn và rửa ruột là các biện pháp bảo vệ cần thiết để làm giảm sự hấp thụ các hợp chất có độc. Than hoạt tính/than củi cũng có thể được chỉ định sử dụng để hỗ trợ sự hấp thu nhằm đưa ra ngoài các chất độc còn lại trong cơ thể (Inchem 2005). Các chăm sóc y tế tiếp theo là cần thiết và phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của sự ngộ độc và các triệu chứng.

From Internet

Các dạng đau bụng ở trẻ

Đau bụng tái đi tái lại nhiều tuần ở vùng quanh rốn thường là đau do giun đũa. Nguy hiểm nhất là khi bé bị đau bụng cấp với các biểu hiện như đau bụng dữ dội, bụng cứng, toàn thân suy sụp...

Chẩn đoán đau bụng ở trẻ là một việc khó ngay cả với bác sĩ. Bài viết này sẽ giúp các bậc phụ huynh biết đưa con em mình đi khám một cách kịp thời, có thái độ bình tĩnh nhờ biết đúng tính chất nặng nhẹ của chứng đau bụng, cũng như có thể xử trí an toàn những trường hợp đau bụng không cần thiết phải đến bác sĩ.

Đau bụng cấp tính

Đau bụng cấp là tình trạng cần phẫu thuật khẩn cấp để cứu chữa. Thậm chí tính mạng của trẻ có thể bị đe dọa nếu việc điều trị đúng nhưng bị trễ đi vài giờ. Khi đó, mổ càng sớm càng có tác dụng tốt với sức khỏe của trẻ.

Các triệu chứng sau đây là biểu hiện của tình trạng bụng cấp, khi có hoặc nghi ngờ là có một trong những triệu chứng này cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay lập tức:

- Đau bụng dữ dội.

- Đau bụng mà trẻ không dám cử động.

- Đau bụng có kèm ói mà chất ói lại có màu xanh rêu hoặc nâu, đen.

- Có những biểu hiện như: bụng cứng, bụng trẻ đau khi sờ đến và có đề kháng (cơ thành bụng co lại, cản trở tay người ấn bụng không thể ấn sâu được).

- Đau bụng mà toàn trạng có vẻ rất nguy cấp, sức khỏe toàn thân suy sụp nhanh chóng, lừ đừ hoặc kích thích hốt hoảng.

Các trẻ đau bụng có biểu hiện bụng cấp như trên chỉ là số hiếm nhưng đòi hỏi phải luôn cảnh giác.

Một số trường hợp đau bụng khác

- Khi trẻ đau bụng mà kèm tiêu chảy rõ ràng, phân tóe nước và đi nhiều lần, cơn đau bụng có thể kết luận là do tiêu chảy. Tùy mức độ tiêu chảy, có thể chăm sóc trẻ ở nhà nếu người nhà nắm vững cách xử trí tiêu chảy hoặc điều trị tại bệnh viện.

- Những trường hợp đau bụng nhiều tuần, các cơn đau tái đi tái lại, vị trí đau ở vùng quanh rốn và không khu trú cụ thể thường là đau bụng do giun đũa. Chẩn đoán nhiễm giun dựa vào xét nghiệm phân thấy có trứng giun. Có rất nhiều trường hợp đau bụng như thế cuối cùng được kết luận là đau bụng cơ năng và không thấy có ảnh hưởng đáng kể gì đến sức khỏe của trẻ.

- Các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là viêm amiđan, viêm phổi, sốt rét, viêm gan cũng có thể kèm triệu chứng đau bụng, và các cơn đau thường chỉ mới xuất hiện vài ba ngày. Dĩ nhiên, khi điều trị bệnh nhiễm trùng thì đau bụng cũng sẽ hết.

- Nhiễm trùng đường tiểu cũng gây đau bụng. Trẻ nhiễm trùng đường tiểu đau bụng ở vùng trên xương mu, đi tiểu đau (trẻ khóc khi đi tiểu), tiểu lắt nhắt nhiều lần, mỗi lần một ít hoặc đau ở vùng hông. Trẻ gái hay bị nhiễm trùng tiểu hơn trẻ trai. Nhiễm trùng tiểu đòi hỏi điều trị kỹ lưỡng, dài ngày tránh tác hại lâu dài.

(Theo BS Nguyễn Thị Ngọc Hương, Sức khỏe và Đời sống)

Sự nhầm lẫn khá phổ biến về bệnh ung thư buồng trứng

Khối ung thư buồng trứng màu xanh lục

Có sự nhầm lẫn khá phổ biến trong giới bác sĩ và cả phụ nữ về bệnh ung thư buồng trứng, một tổ chức từ thiện vừa tuyên bố.

Triệu chứng của ung thư buồng trưng bao gồm: đau bụng hoặc khung xương chậu dai dẳng, vòng bụng ngày càng lớn và bụng căng lên dai dẳng, khó ăn hoặc nhanh no.

Khoảng 6.800 phụ nữ bị chẩn đoán với bệnh này hàng năm. Tuy nhiên, chỉ có 30% còn sống được 5 năm sau khi phát hiện bệnh.

Tổ chức Target Ovarian Cancer đã khảo sát trên 400 bác sĩ và phát hiện thấy 80% trong số họ hiểu sai rằng phụ nữ ở giai đoạn đầu của ung thư buồng trứng không có dấu hiệu gì.

Khi được yêu cầu chỉ ra những triệu chứng tiềm năng của bệnh, 51% bác sĩ xác định đúng "tăng kích cỡ vòng bụng" là triệu chứng quan trọng nhất, nhưng chưa đầy 2% trong số họ biết rằng còn có triệu chứng "khó ăn" hoặc "nhanh no".

Và gần 2/3 số bác sĩ được hỏi không nhận thức được rằng nếu gia đình bên bố có tiền sử nhiều người bị ung thư buồng trứng thì nguy cơ mắc bệnh của người phụ nữ sẽ tăng lên.

Dấu hiệu sớm của bệnh cũng thường bị nhầm lẫn với hội chứng ruột kích thích. Các bệnh nhân thường được gửi đi kiểm tra đường tiêu hóa, và đến thời điểm bác sĩ nhận ra đó không phải là nguyên nhân thì ung thư đã tiến triển.

Cuộc khảo sát cho thấy 69% bác sĩ sản không biết rằng ung thư buồng trứng thường gây ra những triệu chứng ruột kích thích thường xuyên, đột ngột và dai dẳng.

Một phát ngôn viên của Hiệp hội bác sĩ sản khoa cho biết "rất khó" để chẩn đoán căn bệnh này ở giai đoạn sớm.

Còn trong số 1000 phụ nữ được tổ chức Target Ovarian Cancer phỏng vấn, chỉ có 4% cho biết họ có thể "tự tin xác định" các triệu chứng của bệnh.
Hai phần ba số phụ nữ này nghĩ rằng bệnh không có liên quan đến tuổi tác (trong khi thực tế càng lớn tuổi, khả năng mắc bệnh càng lớn). 80% không biết rằng những phụ nữ không con có nguy cơ cao hơn.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho biết nếu được chẩn đoán sớm, 90% người bệnh có thể sống sót. Hiện tại, 3/4 số người mắc được chẩn đoán khi bệnh đã di căn. Trung bình, từ khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên cho đến khi được chẩn đoán là khoảng một năm.

(theo BBC)

Đừng xắt nhỏ cà rốt trước khi luộc

Nấu cà rốt cả củ rồi mới xắt nhỏ chúng ra sẽ làm tăng khả năng chống ung thư của chúng lên 25%, các chuyên gia khẳng định.

Nấu nguyên cả củ sẽ ngăn ngừa các dưỡng chất có giá trị bị rửa trôi theo nước, nhóm chuyên gia này lý giải. Và hơn nữa, loại quả màu cam này sẽ có hương vị thơm ngon hơn so với khi cắt nhỏ.

Cà rốt từ lâu được biết đến với những tác dụng rất tốt cho cơ thể, đặc biệt là hàm lượng chất xơ và vitamin. Chúng chứa một lượng lớn carotenoid - chất chuyển thành vitamin A trong cơ thể. Chúng cũng là nguồn thực phẩm rất giàu hợp chất chống ung thư falcarinol.

Trong một nghiên cứu trước kia, tiến sĩ Kirsten Brandt tìm thấy những con thỏ có ăn cà rốt hoặc falcarinol chiết xuất thì giảm được 1/3 nguy cơ phát triển các khối u so với những con không ăn.

Mới đây, Brandt và cộng sự còn đi xa hơn nữa trong nghiên cứu này. Họ phát hiện cà rốt luộc rồi mới xắt nhỏ chứa chất falcarinol nhiều hơn 25% so với khi cắt trước khi luộc.

Khi xắt cà rốt, chúng ta làm tăng diện tích tiếp xúc của chúng với nước, và làm tăng sự mất chất dinh dưỡng vào nước. Nhiệt độ làm mềm các thành tế bào trong củ, và khiến vitamin cùng falcarinol thoát ra ngoài.

"Điều thú vị của nghiên cứu này ở chỗ đây là một cách đơn giản để mọi người có thể tăng thêm hợp chất chống ung thư cho cơ thể. Tất cả những gì bạn cần là một cái nồi to hơn", Brandt nói.

Chuyên gia dinh dưỡng Carrie Ruxton vui mừng trước phát hiện này. Song bà cũng bổ sung thêm rằng có lẽ cách tốt nhất để ăn cà rốt là ăn sống.

Chất cồn chỉ mất 6 phút để hủy hoại não

Chất cồn chỉ mất 6 phút để hủy hoại não

Lần đầu tiên các nhà khoa học chứng minh được những thay đổi cực nhanh mà chất cồn gây ra trong tế bào thần kinh.

Trước đây những thử nghiệm về tác động của rượu đối với não chỉ được thực hiện trên cơ thể động vật. Vì thế các nhà khoa học của bệnh viện trực thuộc Đại học Heidelberg (Đức) muốn tìm hiểu xem chất cồn cần bao nhiêu phút để tác động lên não người. Họ tuyển được 15 tình nguyện viên (8 nam và 7 nữ) tham gia thí nghiệm. Các chuyên gia yêu cầu những người này uống một lượng rượu hoặc bia trước khi đưa họ vào máy chụp ảnh cộng hưởng từ tốc độ cao (MRI).

Khi nồng độ cồn trong máu tình nguyện viên đạt mức 0,05-0,06%, nhóm nghiên cứu yêu cầu họ ngừng uống. Ở nồng độ ấy, người uống sẽ gặp khó khăn khi lái xe, nhưng chưa rơi vào tình trạng say. Hình ảnh chụp não cho phép các chuyên gia theo dõi những thay đổi nhỏ nhất trong tế bào não.

Tiến sĩ Armin Biller, một nhà thần kinh học của bệnh viện Heidelberg, cho biết, chất cồn lên não sau 6 phút kể từ khi lọt vào cơ thể. Các hóa chất có chức năng bảo vệ não giảm dần khi nồng độ cồn trong máu tăng lên. Các hóa chất trong tế bào thần kinh cũng giảm kể từ khi chất cồn lọt vào cơ thể.

Tuy nhiên, điều khiến nhóm nghiên cứu ngạc nhiên là: Não đàn ông và não phụ nữ phản ứng như nhau đối với chất cồn. Những tác động có hại của cồn đối với não chỉ diễn ra trong chốc lát, song tế bào thần kinh cần rất nhiều thời gian để phục hồi.

“Chúng tôi theo dõi hoạt động trong não của tình nguyện viên tới tận ngày hôm sau và nhận thấy quá trình trao đổi chất thông thường trong não bị đảo ngược hoàn toàn sau khi nồng độ rượu trong máu đạt mức 0,06% trở lên”, Biller giải thích.

Biller cho rằng khả năng phục hồi của tế bào thần kinh giảm, thậm chí bị tê liệt, nếu lượng cồn vào cơ thể tiếp tục tăng lên.

“Những tác động cấp tính đó có thể là nền tảng cơ bản cho những tổn thương vĩnh viễn trong não của những người nghiện rượu”, Biller nói.

Minh Long (theo Telegraph)