Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Glycogen là gì? Những kiến thức cơ bản về glycogen

Glycogen là gì? Những kiến thức cơ bản về glycogen

Khi đọc các bài viết về dinh dưỡng cho người tập thể hình, chúng ta thường nghe nhắc đến glycogen nhưng chưa thực sự hiểu nó là chất gì, có ảnh hưởng gì đối với sức khỏe và tập luyện.

Dưới đây là những thông tin cơ bản nhất bạn nên biết về glycogen – một dạng tinh bột trong cơ thể.

Glycogen là tinh bột gì?

Glycogen thực chất là một dạng carbohydrate được lưu trữ trong cơ thể.

Nó được hình thành bằng cách liên kết các phân tử glucose theo chuỗi dài, gồm khoảng 8-12 phân tử. Những chuỗi này sau đó lại tiếp tục liên kết với nhau tạo nên các hạt lớn gồm hơn 50.000 phân tử glucose.

Những hạt glycogen này được lưu trữ cùng với nước và kali trong các tế bào cơ và gan, cho đến khi cơ thể phân hủy và sử dụng chúng để làm năng lượng.

Một hạt Glycogen sẽ có hình dạng như hình

Những sợi như sợi dây ruy băng nhiều màu ở trung tâm đại diện cho một dạng protein chuyên biệt, đóng vai trò là điểm nối để tất cả các chuỗi glycogen gắn vào.

Hạt glycogen lớn hơn khi ngày càng có nhiều chuỗi glycogen được gắn vào hạt nhân này, và nó bị thu nhỏ lại khi các sợi bị phá vỡ để sử dụng làm năng lượng.

Tổng hợp glycogen là gì?

Tổng hợp glycogen là việc tạo và lưu trữ các hạt glycogen mới.

Để hiểu được cách thức và lý do glycogen được tạo ra, điều quan trọng là phải hiểu cách cơ thể bạn tiêu hóa và lưu trữ carbohydrate.

Sau khi ăn một bữa ăn, cơ thể bạn phân hủy protein, chất béo và carbs thành các phân tử nhỏ hơn. 

  • Protein bị phân hủy thành các phân tử gọi là axit amin. 
  • Chất béo bị phân hủy thành các phân tử gọi là triglyceride.
  • Carbs bị phân hủy thành các phân tử của một loại đường đơn giản gọi là glucose.

Cơ thể cũng có thể chuyển đổi protein và chất béo thành một lượng nhỏ glucose, nhưng quá trình này không hiệu quả và chỉ tạo ra đủ glucose cho các chức năng cơ thể cơ bản, chứ không đáp ứng được nhu cầu tập tạ. Nó cũng chỉ tăng khi mức glycogen đã ở mức thấp. Đó là lý do tại sao bạn phải tiêu thụ carbs để tạo ra một lượng glucose đáng kể.

Cơ thể chỉ có thể lưu trữ khoảng 4 gram (một muỗng cà phê) glucose trong máu bất cứ lúc nào. Nếu glucose tăng vượt mức sẽ gây ra dư thừa, có khả năng làm hỏng dây thần kinh, mạch máu và các mô khác. Tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới bệnh tiểu đường.

Tuy nhiên, để ngăn chặn điều này xảy ra, cơ thể cơ thể sử dụng một số cơ chế để loại bỏ một lượng glucose đi vào máu. Và cách để xử lý chính là “đóng gói” lượng glucose này thành các hạt glycogen, sau đó “cất” chúng vào các tế bào cơ và gan. Đây chính là quá trình tổng hợp glycogen.

Nếu cơ thể cần thêm năng lượng trong tương lai, nó sẽ chuyển đổi các hạt glycogen này thành glucose và sử dụng để làm nhiên liệu.

Glycogen được lưu trữ ở đâu?

Glycogen chủ yếu được lưu trữ trong các tế bào cơ và gan, cùng với một lượng nhỏ ở trong một số tế bào não, tim, mỡ và thận.

Cụ thể thì glycogen được lưu trữ ở chất lỏng trong các tế bào được gọi là cytosol.

Cytosol là một chất lỏng trong suốt bao gồm nước, các loại vitamin, khoáng chất và một số chất khác giúp tạo nên cấu trúc tế bào, lưu trữ chất dinh dưỡng và hỗ trợ các phản ứng hóa học trong tế bào.

Glycogen trôi nổi trong cytosol cho đến khi nó bị phân hủy thành glucose và sử dụng để làm năng lượng.

Hình dưới đây là cấu trúc của glycogen trong tế bào gan khi được quan sát dưới kính hiển vi. Các chấm đen nhỏ là các hạt glycogen lơ lửng trong cytosol.


Thông thường thì mọi người có thể lưu trữ khoảng 100 gram glycogen trong gan và khoảng 500 gram trong cơ bắp. Người có lượng cơ bắp nhiều hơn và có nhiều kinh nghiệm tập luyện có thể lưu trữ được nhiều hơn thế.

Nhưng nói chung, hầu hết mọi người đều có khả năng lưu trữ khoảng 600 gram glycogen.

Cơ thể bạn sử dụng glycogen trong gan như một nguồn năng lượng tức thời để cung cấp cho não và thực hiện các chức năng cơ thể khác trong ngày.

Trong khi đó, glycogen cơ bắp được sử dụng bởi bất kỳ cơ bắp nào đang hoạt động trong khi tập thể dục.

Ví dụ: Nếu bạn tập squats, thì glycogen được lưu trữ trong cơ đùi trước, đùi sau, mông và bắp chân sẽ bị phân hủy thành glucose để cung cấp năng lượng cho bài tập.

Ảnh hưởng của glycogen đến việc tập luyện

Sau khi hiểu rõ khái niệm glycogen, quá trình lưu trữ và sử dụng nó, chúng ta hãy đi tìm lý do vì sao vận động viên, người tập luyện cần phải quan tâm đến lượng glycogen.

Glycogen ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất tập luyện?

Đơn vị cơ bản nhất của năng lượng tế bào là một phân tử có tên gọi là adenosine triphosphate (ATP).

Tuy nhiên, để một tế bào sử dụng được ATP, trước tiên nó phải chia ATP thành nhiều phân tử nhỏ hơn. Quá trình này tạo ra các phụ phẩm mà sau đó được “tái chế” lại thành ATP để tái sử dụng.

Bạn càng có nhiều ATP, các tế bào càng lưu trữ và tái tạo nhanh, càng tạo ra được nhiều năng lượng sử dụng để hoạt động.

Khi bạn tập thể dục, các tế bào của bạn đòi hỏi nhiều năng lượng hơn bình thường. Do đó cơ thể phải tạo ra nhiều ATP hơn để đáp ứng.

Ví dụ, trong một lần chạy nước rút, cơ thể có khả năng sử dụng ATP nhanh hơn 1.000 lần so với khi bạn nghỉ ngơi.

Vậy, làm thế nào để cơ thể bạn tăng cường sản xuất năng lượng để đáp ứng những nhu cầu này?

Cơ thể sử dụng 3 quá trình khác nhau, được gọi là các hệ thống năng lượng (energy systems) để đảm bảo cơ bắp luôn có nguồn cung cấp ATP ổn định cho dù bạn tập nhiều và nặng đến mức nào.

Các hệ thống này sử dụng một số nguồn nhiên liệu khác nhau để tái tạo ATP, bao gồm mỡ cơ thể (triglyceride), glycogen và một phân tử khác gọi là phosphocreatine.

Hệ thống phosphocreatine

Sử dụng phosphocreatine – một nguồn năng lượng khác được lưu trữ trong cơ bắp.

  • Ưu điểm: Tạo ra năng lượng cực nhanh.
  • Nhược điểm: Năng lượng không nhiều, mất nhiều thời gian để nạp lại.

Cơ thể thường sử dụng hệ thống này cho những nỗ lực ngắn dưới 10 giây. Sau 10 giây tập nặng, hệ thống phosphocreatine bị rút cạn và cơ thể bắt đầu phải phụ thuộc vào 2 hệ thống còn lại.

Hệ thống anaerobic

Sử dụng glycogen và glucose để làm năng lượng, nên còn được gọi là hệ thống glycolytic.

  • Ưu điểm: Tạo ra năng lượng tương đối.
  • Nhược điểm: Mất vài giây để đạt được công suất tối đa.

Hệ thống anaerobic chủ yếu được sử dụng cho các bài tập kéo dài khoảng 20 giây đến 2 phút. Hầu hết các set 8-12 reps của bạn sẽ được hỗ trợ bởi hệ thống này.

Hệ thống aerobic

Sử dụng nhiều glycogen cơ bắp, còn được gọi là hệ thống oxy hóa trực tiếp.

  • Ưu điểm: Tạo ra nhiều năng lượng trong thời gian dài.
  • Nhược điểm: Mất nhiều thời gian để “làm nóng”.

Hệ thống này thường được sử dụng trong tập luyện cường độ vừa phải, kéo dài, hoặc khi bân hồi phục sai những bài tập khó.

Cả 3 hệ thống năng lượng đều cùng hoạt động mọi lúc, nhưng ảnh hưởng của mỗi hệ thống khác nhau tùy thuộc vào mức độ tập luyện của bạn.

Và phân tích 3 hệ thống này để làm gì?

Ta có thể thấy cả 3 hệ thống đều phụ thuộc rất nhiều vào glycogen.

Nếu mức glycogen của bạn xuống thấp thì những hệ thống này cũng giảm hiệu suất, ảnh hưởng đến hiệu quả bài tập. Ngược lại, nếu bạn giữ mức glycogen cao, cung cấp nguồn nhiên liệu ổn định cho các động cơ này, bạn sẽ có thể tập được nặng hơn và lâu hơn. 

Glycogen và sức mạnh

Nếu bạn thực hiện các sets gồm 4-6 reps, thì set của bạn thường sẽ kéo dài khoảng 15-20 giây.

Nếu glycogen cơ bắp được sử dụng cho những sets dài hơn, nó sẽ tạo ra những sự khác biệt nhờ 2 lý do:

  1. Thứ nhất, mặc dù trong những bài tập ngắn, bạn chủ yếu dựa vào hệ thống phosphocreatine nhưng vẫn cần đến một lượng glycogen tương đối. Chẳng hạn như trong một bài nước rút 10 giây sẽ sử dụng 1 nửa năng lượng từ phosphocreatine và 1 nửa từ anaerobic.
  2. Thứ hai, giữa các sets, hệ thống aerobic của bạn phụ thuộc rất nhiều vào carbohydrate để tái tạo ATP. Nếu bạn không có đủ glycogen trong cơ bắp để phục hồi giữa các sets

Glycogen và sức bền

Cơ thể nhận khoảng 80-85% năng lượng từ glycogen khi bạn đạt khoảng 50-85% cường độ tối đa của bản thân, trong tất cả các môn thể thao sức bền.

Đó là lý do vì sao bạn được khuyên nên ăn chuối, bánh mì, các loại bars protein, nước tăng lực, gel và những món ăn bổ sung nhiều carb khác trong những cuộc chạy dài.

Khi càng đạt gần đến mức cường độ tối đa, cơ thể sẽ sử dụng nhiều carbohydrate hơn theo cấp số nhân. Nghĩa là nếu bạn tập ở mức 60% cường độ tối đa, bạn sẽ sử dụng lượng glycogen nhiều hơn gấp đôi so với khi bạn tập ở mức 30%.

Bạn càng tập nặng thì bạn càng cần nhiều glycogen.

Và điều gì sẽ xảy ra khi bạn hết glycogen? Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi và không duy trì được hiệu suất mong muốn của mình.

Bạn có thể ngăn chặn tình trạng này xảy ra bằng cách bổ sung thêm carbs trong thời gian tập luyện dài, đồng thời xây dựng chế độ ăn nhiều carbs trong ngày.

Làm thế nào để tăng mức glycogen?

Chỉ một bữa ăn lớn nhiều carb không đủ để giữ glycogen ở mức cao. Glycogen luôn bị phá vỡ và tái tạo. Đó là lý do tại sao bạn phải duy trì lượng carbohydrate hàng ngày tương đối cao.

Nhưng chính xác thì cao là bao nhiêu?

Nếu bạn muốn tăng sức mạnh và xây dựng cơ bắp thì cần ăn 1-3 gram carbs/ 0.5 kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày.

Nếu bạn muốn giảm mỡ thì lượng carb sẽ bị ảnh hưởng bởi lượng calo mục tiêu của bạn. Hầu hết mọi người sẽ nạp khoảng 1-1.6 gram carbs cho mỗi 0.5kg trọng lượng cơ thể.

Nếu bạn là vận động viên tập các môn sức bền như chạy bộ, đạp xe bạn có thể cần đến 4-5 gram carbs cho mỗi 0.5kg trọng lượng cơ thể.

Tóm lại, điểm mấu chốt là sau khi đảm bảo đã ăn đủ lượng protein và chất béo mỗi ngày, hãy ăn nhiều carbs nhất có thể trong lượng calo cho phép.

Glycogen có trong thực phẩm nào?

Vì thành phần của glycogen là glucose, một loại carbohydrate, nên thức ăn tốt nhất để tăng mức glycogen trong cơ bắp là những món có nhiều carbs.

Nhiều người chọn các loại carbs tinh chế như ngũ cốc ăn sáng, bánh mì trắng, đồ ăn nhẹ và tráng miệng giàu carb như bánh quy để tăng mức glycogen cơ bắp. Nhưng thực ra đây không phải là một ý kiến hay.

Dù thực phẩm nào nhiều carbs cũng sẽ hoàn thành được nhiệm vụ đó. Nhưng tốt nhất bạn vẫn nên tập trung vào các nguồn carbs đậm đặc, ít qua tinh chế vì chúng giàu các vitamin và khoáng chất hơn.

Bạn có thể tham khảo một số món sau đây:

  • Khoai lang
  • Khoai tây
  • Chuối
  • Dâu tây
  • Nho
  • Táo
  • Xoài
  • Yến mạch
  • Lúa mạch
  • Gạo trắng và gạo lứt
  • Bánh mì ngũ cốc nguyên hạt
  • Đậu
Như vậy bạn đã hiểu glycogen là gì chưa nào, cũng như vai trò của nó đối với hiệu suất tập luyện và cơ bắp. Hãy chú ý đến chế độ dinh dưỡng của mình để tránh mức glycogen cơ bắp bị hạ xuống quá thấp. Tuy nhiên cũng đừng quá lạm dụng và phải cân nhắc đến lượng calo nữa nhé.

Nguồn: irace.vn

IKIGAI, cách người Nhật đi tìm ý nghĩa cuộc sống.

Tối qua, mình như đã có một cuộc phiêu lưu đến nơi như ý định ban đầu là để học tiếng Anh. Ngoài sự mong đợi, nơi đó mình được giao lưu với các bạn trẻ sẽ là nhân tài của tương lai với tâm hồn đầy hồn nhiên và chủ động. Thầy cô là những thiện trí thức của đương thời, đầy lòng nhiệt huyết với tinh thần tích cực chứa đựng tình yêu thương.

IKIGAI, cách người Nhật đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Chủ đề không mới với mình, ít nhiều nó cũng len lỏi vào phong cách sống hiện tại của mình. Nhưng tối qua, E-WIT đã cho mình thêm góc nhìn mới hoặc như đã củng cố thêm niềm tin của mình về việc tạo giá trị và phụng sự cho cộng đồng.

IKIGAI - Source: E-WIT

Môi trường sống tạo nên những khoảnh khắc cho hạt giống của chúng ta. E-WIT, có phải là môi trường cho hạt giống trong bạn? Điều này chỉ mỗi bạn biết, bạn thử cho phép bản thân có vài trải nghiệm phiêu lưu cùng E-WIT để xem ngoài phát triển ngoại ngữ thì hạt giống CHÂN-THIỆN-MỸ của bạn có được nẩy mầm không bạn nhé!

“Hành trình vạn dặm, bắt đầu bằng một bước chân” (Lão Tử)

IKIGAI - Source: Youtube


Vượt qua sự tự chỉ trích

Bạn đang có một mối quan hệ, trong tâm trí bạn thì đó là mối quan hệ rất tốt, rồi bỗng nhiên một ngày nọ đối phương nói không muốn tiếp tục mối quan hệ ấy nửa, vì bạn đại loại là người không như người ấy tìm kiếm, bạn là người không thấu hiểu, bạn có học mà lại cư xử khiếm nhã...vâng...vâng và vâng...vâng. Rồi bạn cảm thấy buồn, bạn suy nghĩ miên mang, rồi bạn tự hỏi bạn đang làm sai điều gì, bạn đang không tốt như thế nào,... bla..bla 

Có thể trong mỗi chúng ta, đôi ba lần xuất hiện việc tự chỉ trích mình, tức là tự nói tiêu cực với bản thân (Negative Self Talk)

  • Tôi cứ làm mọi chuyện rối tung lên, chuyện gì đang xãy ra với tôi vậy? (I keep messing this up, what wrong with me?)
  • Từ trước giờ tôi không làm điều gì đúng cả, tôi thật vô dụng (I can't do anything right, I'm useless)
  • Tôi ước rằng mình không quá tệ như thế (I wish I wasn't so terrible).
  • ...

Vậy nguyên nhân đến từ đâu? (Cause of Self Criticism)

  • Sống và/hoặc làm việc trong một môi trường hay bị chỉ trích (Living and/or working in an environment of criticism)
  • Một người nào đó chỉ trích ta và ta cho phép việc chỉ trích đó diễn ra (A specific person criticizes me and me allow it to keep happening)
  • Từ truyền thông, những tin xấu thì dễ thu hút, những tin tốt thì không (Social media, the bad news is attractive but good is not as)
  • Những ký ức cắm rễ sâu (Old deep rooted memories)

Tự so sánh bản thân với (Comparing myself to:)

  • Người đã làm được điều gì đó to tát (Other people who was done something great)
  • Lý tưởng của tôi về cách tôi nên thực hiện như thế nào (My ideal about how I should be performing)
  • Điều tôi nghĩ sẽ gây ấn tượng cho người khác (What I think others would be impressed by)

Ta cần phân minh tính đỗ thừa & trách nhiệm (Blame & Responsibility) của bản thân ta trong sự việc, hiện tượng xãy ra.

Có cái nhìn đúng đắng về có lỗi & xấu hỗ (Guilt & Shame) vs tự trọng & yêu thương (Self Respect & Love)  

Dân gian ta có 2 câu thơ:

Thương người thương cả lối đi
Ghét người ghét cả tông ty, họ hàng

Ở ví dụ đầu tiên, thật vậy nếu đã thích thì đối phương sẽ giành cho ta bao nhiêu lời nói mĩ miều hoặc đôi khi tùy theo xúc cảm của đối phương ta sẽ nhận được những mỹ từ khác nhau, vậy thì tại sao ta lại tự trách ta theo những cảm xúc đến từ bên ngoài? 

Vượt qua việc chỉ trích bản thân (Overcoming self criticism)

  • Tìm kiếm lợi ích hay mặt tốt trong mọi điều (Look for the benefit or good in everything)
  • Làm tốt nhất và lần tới sẽ làm tốt hơn (Do your best and next do better)
  • Học cười vang trước thất bại (Learn to laugh at failure)
  • Thực hành lòng trắc ẩn và tha thứ cho bản thân.

Câu hỏi cho bản thân

  • Tôi thường làm những việc ngốc ngếch nào đáng để làm rối tung cuộc sống của mình? (What remarkably stupid thinks am doing on a regular basic to absolutely mess up my life?)
  • Bạn muốn gì? Bạn thực sực muốn gì? Hãy trả lời một cách cụ thể và nhắc nhỡ bản thân mỗi ngày. (what do you want, what do you really want? Be absolutely specific and remind yourself everyday)  

Chính lòng trắc ẩn mới là cội nguồn của mọi đạo đức


Giấc ngủ REM và Non-REM

Có 2 loại giấc ngủ: Non-REM và REM

- Giấc ngủ NON-REM: Giấc ngủ của não bộ. Mục đích chính của giấc ngủ này là loại bỏ căng thẳng và bài tiết hoóc-môn. Trong khi não bộ nghỉ ngơi, cơ thể sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, chức năng miễn dịch tăng cao, tiến hành duy trì và bảo vệ các tế bào.
Nếu bị đánh thức khi đang chìm trong giấc ngủ NON-REM. cả não bộ và cơ thể sẽ cảm thấy buồn ngủ, rơi vào trạng thái thiếu ngủ trầm trọng.
Nguyên nhân là ở giấc ngủ này, não bộ được nghỉ ngơi, cơ thể trong trạng thái được khôi phục". Lúc này não bộ không thể có sự chuẩn bị triệt để cho việc thức giấc. 

- Giấc ngủ REM: Là giấc ngủ của cơ thể. Cơ thể sẽ trong trạng thái nghỉ, não bộ hoạt động. Mục đích chính ở giai đoạn này là làm cố định ký ức và khôi phục sự mệt mỏi của cơ bắp. Não bộ hoạt động hăng hái với mục đích thực hiện "sắp xếp" và "tái cấu trúc" ký ức.
Trong số những thông tin não bộ phải tiếp nhận là khi con người thức giấc, não bộ sẽ chỉ lấy đi những thông tin cần thiết với bản thân bạn, tiến hành tái xử lý. Nó mang lại chức năng giống như "tối ưu hóa" máy tính vậy.
Giấc ngủ REM là khoảng thời gian giấc ngủ đang trong trạng thái nong, vậy nên nếu bạn tỉnh giấc vào lúc này, bạn có thể thực dậy và bắt đầu ngày mới trong trạng thái dễ chịu và sảng khoái.

Độ sâu của giấc ngủ được chia thành ba giai đoạn:

  • Giấc ngủ NON-REM nông
  • Giấc ngủ NON-REM sâu
  • Giấc ngủ REM


Nhìn vào sơ đồ, con người sau khi chìm vào giấc ngủ và dần bước vào giấc ngủ NON-REM sâu, sẽ quay lại giấc ngủ NON-REM nông, khi ở giấc ngủ NON-REM nông nhất, chuyển sang giấc ngủ REM. Trạng thái não bộ hoạt động lúc này kéo dài khoảng 10-20 phút, sau đó lại chìm vào giấc ngủ NON-REM, giấc ngủ sẽ một lần nữa dần chuyển sang trạng thái sâu.

Giấc ngủ của con người sẽ là sự lặp đi lặp lại ba loại giấc ngủ này, để tiến hành phục hồi não bộ và cơ thể. 

Có thể nói khả năng cân bằng tốt giấc ngủ NON-REM và REM chính là hoạt động mà chỉ con người có được - sinh vật sở hữu bộ não thông minh và cao cấp.

Những loài vật không mang bộ não thông minh và cao cấp giống con người, nên chúng không cần phải có giấc ngủ NON-REM, phần lớn là có giấc ngủ REM để cơ thể chúng hoàn toàn được thư giãn mà thôi.

Tóm lại, đối với con người giấc ngủ NON-REM đóng vai trò quan trọng hơn bởi giấc ngủ này sẽ giúp con người giải tỏa mỏi mệt và căng thẳng trong trí não.
Đương nhiên, giấc ngủ REM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc "sắp xếp ký ức" nhưng tiền đề quan trọng hơn là đê não bộ được hoàn toàn nghỉ ngơi trong giấc ngủ NON-REM.

Tức là, giấc ngủ thích hợp nhất đối với con người chính là giấc ngủ mà đảm bảo sự cân bằng giữa giấc ngủ NON-REM và REM, đặc biệt phải chú trọng nâng cao chất lượng giấc ngủ NON-REM để có thể ngủ sâu hơn nữa.

Tham khảo sách "Ngủ ít vẫn khỏe - SATORU TSUBOTA

Tần số rung động

Trong vũ trụ này tồn tại 4 phạm trù chính: Không gian, thời gian, vật chất và năng lượng.
Mọi thứ trong Vũ Trụ này đều có năng lượng rung và chuyển động - mọi thứ mà bạn nhìn thấy, nghe, chạm đều rung động với một tần số này hay một tần số khác và bạn cũng vậy.
Bạn là năng lượng rung động và mọi thứ chung quanh bạn là năng lượng rung động, phòng bạn ngồi cũng vậy, thậm chí cảm xúc suy nghĩ và lời nói của bạn đều có năng lượng rung động
Mọi người và mọi vật xung quanh chúng ta đều được tạo thành từ vật chất. Vật chất được tạo thành từ các nguyên tử. Nguyên tử được tạo thành từ các hạt như proton, neutron, electron; và nếu nhìn sâu hơn nữa, bạn sẽ thấy rằng đó là những sóng năng lượng rung động ở các tần số (tốc độ) khác nhau.

Thế nào là tần số cao và tần số thấp?
  1. Tần số rung động nặng nề là tần số rung động thấp còn gọi là năng lượng tiêu cực. Những người có tần số rung động thấp thường có cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực như nóng giận, ganh ghét, ghen tị, thiếu kiên nhẫn, nghi ngờ v.v…
  2. Tần số rung động thanh nhẹ là tần số rung động cao còn gọi là năng lượng tích cực. Những người có tần số rung động cao thường tử tế, đồng cảm, giàu lòng từ bi, yêu thương vô điều kiện v.v…
Tần số rung động cao hoặc thấp được chuyển đổi rất nhanh, tùy thuộc vào từng thời điểm bạn nóng giận hay yêu thương, đồng cảm hay đố kỵ… sóng tần số sẽ lên xuống nhanh hay chậm, tần số càng nhanh càng thanh nhẹ, càng chậm càng nặng nề.

Nếu các bạn để ý sẽ thấy khi chúng ta vui vẻ (rung động cao) chúng ta có cảm giác tràn đầy năng lượng, hớn hở, thân thể nhẹ nhàng, cảm giác người căng phồng lên. Vì rung động nhanh sẽ khiến cơ thể chúng ta dãn nở và chúng ta có đặc tính cho đi, lan tỏa (Phải có năng lượng thì mới cho đi được). Đây chính là điều lý giải vì sao các nhà tu hành có thể chạy trên nước hoặc bay được. Tần số càng cao trọng lượng càng giảm, khi tần số đủ cao hiện tượng phản trọng lực sẽ diễn ra và chúng ta có thể bay được với thân thể ánh sáng 5D

Khi bạn buồn rầu (rung động thấp) bạn sẽ cảm thấy chán nản, ủ ê, người như đeo đá tảng, nặng nề. Nếu lo sợ còn có cảm giác co rúm người lại. Vì vậy các đặc tính cảm xúc tiêu cực có đặc tính co vào, cần được chia sẻ, an ủi (hút năng lượng)

Theo đó, mỗi người có một tần số rung động hay mức năng lượng khác nhau tùy theo cảnh giới tinh thần của họ, nằm trong khoảng từ 1 đến 1000.

Cơ thể chúng ta được chia làm 2 phần:
  1. Thân thể vật lý (đặc và rung động chậm)
  2. Linh hồn (thanh nhẹ và rung động cao)
Lý thuyết giao thoa sóng: Hiện tượng 2 sóng kết hợp, khi gặp nhau ở những điểm xác định, luôn luôn hoặc tăng cường nhau tạo thành cực đại hoặc làm yếu nhau (tạo thành cực tiểu) gọi là sự giao thoa sóng.
Điều kiện để có giao thoa: Hai sóng là hai sóng kết hợp tức là hai sóng cùng tần số và có độ lệch pha không đổi theo thời gian (hoặc hai sóng cùng pha)

Khi gặp người trong mộng trái tim lập tức đập dồn dập và tỏa ra một nguồn năng lượng rung động cao khiến cơ thể chúng ta lâng lâng, ngây ngất (mới là đơn phương). Nếu cả 2 người đều phát ra tần số sóng yêu thương, cùng tần số, cùng pha thì sẽ xảy ra hiện tượng giao thoa sóng và cộng hưởng tăng tần số rung (đây chính là tình yêu sét đánh)
Thông thường nguồn năng lượng mạnh mẽ này sẽ kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần hoặc nhiều tháng nếu người đó không để mất năng lượng vì các cảm xúc tiêu cực và liên tục được bổ sung năng lượng của tình yêu thuần khiết. Đây cũng chính là nguyên lý thoát khổ của các bậc chân sư, họ luôn giữ được tần số rung động cao của mình thông qua việc chế ngự tâm, không để các cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng khiến họ mất năng lượng.

Tuy tần số năng lượng của tim là khá cao (lớn hơn 500) nhưng tần số đó vẫn không cao bằng tần số rung động của sự minh triết (hiểu biết). Cho nên nếu bạn quan tâm đến tần số rung động hãy quan tâm đến trí tuệ và tình yêu thương.

Virus và vi khuẩn chỉ có thể gây nguy hiểm cho cơ thể vật lý nếu bạn sống ở tần số rung động thấp, khi các luân xa của bạn bị tắc nghẽn bởi nỗi sợ hãi, tội lỗi, xấu hổ, đau khổ, ảo tưởng, chấp trước (dính mắc với cái tôi).
Hệ thống miễn dịch sẽ yếu đi vì hệ thống thần kinh của bạn bị tấn công.

Bạn có biết bạn chính là một trong những dây chuyền sản xuất ra một loại thực phẩm đặc thù (năng lượng tiêu cực) cho ký sinh trùng ngoài vũ trụ. Thực thể bóng tối này bám vào hệ thống thần kinh để đánh cắp sinh lực sống của bạn.

Khi bạn tăng rung động vĩnh viễn thông qua việc thiền định, các ký sinh trùng vũ trụ này sẽ phải tránh xa bạn vì ánh sáng của bạn quá mạnh đối với chúng, vì vậy bạn không thể bị nhiễm bệnh được, vì virus và vi khuẩn bị đốt cháy khi chúng xâm nhập vào cơ thể bạn. Virus không thể sống sót nếu cơ thể ánh sáng của bạn được tích hợp với cơ thể vật lý của bạn.

Luật rung động

Luật Rung động áp dụng cho mọi thứ bạn nghĩ, tin tưởng, hành động, dự định và lời nói.

Bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những điều tốt đẹp sẽ gia tăng tần số cao hơn khi nó di chuyển qua thời gian và không gian cho đến khi nó trở lại với người gửi và mang theo nó những món quà - gọi là phép màu - của những tần số cao hơn. Ngược lại, bất kỳ rung động nào được gửi đi vì những lý do ích kỷ như tham lam hoặc ganh ghét sẽ mang lại sự rung động với tần số thấp hơn, nghĩa là những điều kém may mắn, bất lợi, phiền muộn v.v... sẽ xảy đến cho chúng ta. Điều này cũng giống như luật nhân quả “trồng nhân gì thì được quả đó”.

Nếu không thích những gì bạn đã thu hút trong cuộc sống của mình thì hãy nâng cao tần số rung động của bạn lên. Để bắt đầu nâng cao tần số rung động, bạn chỉ cần tập trung vào những điều tốt đẹp thay vì những điều bi quan và tiêu cực.

Nâng cao tần số rung động một cách nhanh chóng.

Ăn chay và yêu thương sẽ tự động nâng cao tần số rung động của chúng ta một cách nhanh chóng.
Trái cây, rau cải, đậu hạt có nhiều dưỡng chất và phòng chống bệnh để cơ thể chúng ta không đau đớn vì bệnh tật và như vậy chúng ta sẽ có một cuộc sống khỏe mạnh dài lâu. Đây cũng là một điều tích cực và những gì tích cực sẽ tăng cao tần số rung động của chúng ta. Thực vật là loài có rung động tốt, cao; 
Hoa cải
Ngược lại thì thịt động vật luôn chứa rung động thấp. Khi con thú bị giết, chúng phát ra 1 năng lượng sợ hãi lớn. Năng lượng này tỏa ra xung quanh và “ngấm” sâu trong thịt, khi ta ăn thì “oán khí” ấy vào bụng và sẽ sinh ra nhược khí gây nên ung thư. Đó là kiến thức của bên tâm linh, còn khoa học thì chứng minh rằng khi thú bị giết, nó sợ hãi và trong thịt sinh ra 1 chất độc, người ăn vào sẽ không tốt. 2 trường phái đều bù trừ cho nhau thế đấy. Người ta cũng đã chụp thể năng lượng của thịt và hoa quả, xong kết quả cho chúng ta biết rằng hoa quả dù bị vặt trên cây từ nhiều ngày nhưng vẫn tỏa ra 1 vùng ánh sáng tốt.
Có thể một số bạn vẫn còn thắc mắc vì câu trả lời bên trên không đủ để thuyết phục thì các bạn hãy thử ăn chay một thời gian rồi bạn sẽ rõ.

Âm nhạc: là một trong những công cụ dao động tuyệt vời nhất chúng ta có vì nó vượt qua mọi ranh giới và từng bước vượt qua bản ngã. Bản ngã không chống lại tần số cao của âm nhạc. Vì vậy, khi dùng âm nhạc sẽ rung động của riêng bạn tác hợp với tần số của âm nhạc mà bạn nghe. Hoặc thường xuyên tiếp xúc với những âm thanh có tần số rung động nhất định cũng khiến nâng cao sự rung động của bản thân. Vậy nên hãy hát om mani padme hum mỗi khi rảnh rỗi nhé các bạn.

Đọc sách: Bất cứ điều gì là cảm ứng sẽ tăng tần số của bạn. Vì vậy đọc sách mà làm cho bạn cảm thấy tốt về bạn thân trong thế giới này, xem phim cũng sẽ làm cho bạn cảm thấy tốt và truyền cảm hứng cho bạn và làm cho bạn thức tỉnh để trở nên lộng lẫy như chính bạn.

Viết: Tôi thấy rằng quá trình viết rất tốt. Nó giúp bạn vươn lên một tần số cao vì các nỗ lực cần thiết để đạt được sẽ tăng cường sự rung động của bất cứ điều gì bạn tập trung vào. Hoặc có thể nếu bạn chỉ cần làm điều này thông qua sự tập trung. Ví dụ khi bạn lái xe bạn chỉ cần tìm kiếm khía cạnh tích cực ở nơi bạn vừa đi quá. Bạn có thể lắng nghe mọi thứ, bạn có thể vừa lái xe vừa nói: "Tôi thích màu sắc chiếc xe đó" hoặc "Tôi thích việc người mẹ đang ôm con mình trên tay". Bất cứ điều gì bạn thích khi bạn nhìn thấy rồi tập trung về suy nghĩ tích cực. Nó sẽ gây ra rung động cao. Đó chính là thái độ biết ơn, hãy đánh giá cao sự vật, sự việc bởi vì sự biết ơn là sự rung động gần nhất với rung động của Nguồn. Là tình yêu vô điều kiện tinh khiết khi bạn nhìn vào một thứ gì đó với thái độ đánh giá cao vì vậy bất cứ khi nào bạn tập trung hoàn toàn tức đang cộng hưởng với tần số cao nhất đó.

Ngoài ra, chỉ cần chúng ta yêu thương… Đúng vậy, chỉ cần chúng ta làm mọi việc - suy nghĩ, hành động, lời nói - với tình yêu thì mọi việc sẽ trở nên tích cực.
Như nhà bác học Albert Einstein đã viết: “Tình yêu là sức mạnh, bởi nó phát triển bản tính tốt đẹp nhất của ta để con người không bị dập tắt (che mắt) trong sự ích kỷ mù quáng...
Nếu bạn có thể bao bọc mọi ý nghĩ trong tình yêu, và nếu bạn có thể yêu thương mọi người mọi thứ thì cuộc sống của bạn sẽ thay đổi - tiêu cực sẽ trở nên tích cực - khi tích cực là bạn đang nâng cao tần số rung động của mình.
Mỗi loại rung động sẽ phù hợp với 1 chiều kích riêng, khi rung động đủ cao thì bạn tiến lên 1 chiều kích khác. Mỗi người có 1 tần số riêng và nó thu hút những người có cùng tần số đến với nhau. Bạn là người duy nhất tăng được rung động chính mình. Quan trọng là sự lựa chọn của bạn.

Thiền định: cũng là cách để nâng cao tần số rung động một cách nhanh chóng.

Tham khảo tại: khoahoctamlinh.vn/khoa-hoc-tam-linh/tan-so-tam-linh/tim-hieu-ve-tan-so-rung-dong-875.html

Vô tình hay Hữu ý

Cứ ngỡ gặp nhau là vô tình nhưng lại là sự tính toán, sắp đặt... 
Rồi cứ ngỡ mọi chuyện sau này đều là những kế hoạch nhưng lại là những cảm xúc vô tình... Nhưng dù vô tình hay hữu ý, đã gặp được nhau, tất cả chẳng phải đều là "Duyên" sao?

Nếu ta mở cửa nhìn thấy cái cây ở ngoài sân, tức là: phải có cái cây, phải có mắt ta, nhưng cửa phải mở thì ta mới thấy, nhưng cửa mở mà bên ngoài tối đen cũng không thấy nên cần phải có ánh sáng, rồi còn phải có cơ hội, có nhân duyên để đến ngồi trong căn phòng đó, để nhìn ra cái cây đó. Hội đủ thứ đó lại trong một không gian trong một thời gian, ta có thể gọi là Duyên.

Tôi mượn cuốn sách về đọc cuối tuần, có bạn nhờ tôi chuyển đồ đến cho một người chưa từng biết ở gần nhà, người lạ ấy lại giúp tôi giải thích được những nội dung trong cuốn sách mà tôi chưa thể hiểu, tôi lại bị lôi cuốn bởi những tố chất và lời nói chân thành và món bánh rất ngon từ người lạ ấy.

Tôi đang tự hỏi, cái nào là vô tình – cái nào là hữu ý.
Nếu là một tín hiệu tốt, xin hãy giúp tôi đủ trí tuệ để sáng suốt cảm mến được trái tim băng giá của cô gái ấy!